Ý nghĩa tên gọi Quân đội nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ

Kể từ khi thành lập ngày 22-12-1946 đến nay, sau 77 năm, Quân đội ta đã có nhiều tên gọi khác nhau: Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Việt Nam Giải phóng quân, Vệ quốc đoàn, Quân đội Quốc gia Việt Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam. Dù với tên gọi nào, Quân đội nhân dân Việt Nam mãi mãi là quân đội của dân, do dân, vì dân, là sức mạnh nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

1. Ý nghĩa tên gọi Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân:

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là tên gọi lực lượng chủ lực của Mặt trận Việt Minh từ tháng 12 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945. Tổ chức quân sự này được công nhận là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 22 tháng 12 năm 1944 là ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Ngày này sau được chọn là ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

Hoàn cảnh ra đời: Trước yêu cầu của tình thế chiến đấu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy đã đến lúc phải xây dựng lực lượng vũ trang chủ lực mà nòng cốt là những cán bộ, du kích có trình độ, năng nổ. Bác Hồ và Ban Thường vụ Trung ương Đảng cử đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách thành lập lực lượng vũ trang tập trung. “Lệnh thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân” ​​của Bác Hồ đã xác định rõ ý nghĩa lịch sử, nhiệm vụ của đội quân chủ lực đầu tiên:

Tên: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tức là chính trị trọng hơn quân sự. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội tuyên truyền. Vì trong quân đội, muốn có kết quả thì nguyên tắc cơ bản là phải đoàn kết các lực lượng, thì theo chỉ thị mới của đoàn, những cán bộ, đoàn viên quyết tâm, nhiệt tình nhất sẽ được chọn vào quân đội. Du kích Cao – Bắc – Lạng và một số lượng lớn vũ khí đã được tập hợp để thành lập đội chủ lực.

Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, phải huy động lực lượng toàn dân, trang bị vũ khí cho cả nước, từ đó tập hợp lực lượng để thành lập quân đội đầu tiên, nên phải duy trì lực lượng vũ trang. trang ở địa phương, hành động và giúp đỡ bằng mọi cách. Tuy nhiên, bộ đội chủ lực có trách nhiệm chỉ đạo các đội vũ trang địa phương, giúp huấn luyện, giúp vũ khí nếu có thể, làm cho các đội này trưởng thành mãi mãi.

Đối với đội vũ trang địa phương: Cử cán bộ các địa phương đi huấn luyện, cử các bộ đã huấn luyện đi các nơi, trao đổi kinh nghiệm, thông suốt và cùng nhau chiến đấu.

chiến thuật: Dùng du kích, bí mật, thần tốc, hung hãn, nay đông, mai tây, vô hình, khi không.

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân gọi là đội cao cấp, các đội khác xuất hiện gọi là đội nhỏ.

Xem thêm bài viết hay:  Phân biệt tiền thật với tiền giả qua seri và bằng điện thoại

Mặc dù ban đầu quy mô của đội còn nhỏ nhưng tương lai của đội rất tươi sáng. Đây là nơi xuất phát của quân giải phóng, có thể trải dài từ Bắc chí Nam, trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

2. Ý nghĩa tên Việt Nam Giải phóng quân:

Việt Nam Giải phóng quân là tên gọi của Quân đội nhân dân Việt Nam từ tháng 5 đến tháng 11 năm 1945. Việt Nam Giải phóng quân được thành lập ngày 15 tháng 5 năm 1945 tại Định Biên Thượng (Chợ Chu, Thái Nguyên) trên cơ sở sự thống nhất tuyên truyền của Giải phóng quân với Quân giải phóng quân. Cứu quốc quân và các tổ chức quân sự khác theo nghị quyết của Hội nghị quân sự Bắc Kỳ họp tháng 4-1945 tại Hiệp Hòa (Bắc Giang).

Bối cảnh lịch sử: Trong khi tinh thần cách mạng đang sục sôi khắp nước ta thì chiến tranh thế giới thứ hai đã đến hồi kết thúc.

Ngày 7-5-1945, Phát xít Đức – I-ta-li-a đầu hàng Đồng minh. Ngày 8-8-1945, Hồng quân Liên Xô đánh bại lực lượng chủ lực của phát xít Nhật là đạo quân Quan Đông; Sự sụp đổ hoàn toàn của phát xít Nhật chỉ còn vài giờ nữa.

Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 8 năm 1945 tại Tân Trào trong không khí hết sức khẩn trương. Tại hội nghị, trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, quyết định tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Theo lệnh tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng, lời kêu gọi của Tổng bộ Việt Minh và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước nhất tề đứng lên. 2 giờ chiều ngày 16-8-1945, bộ đội chủ lực Giải phóng quân rời Tân Trào tiến đánh thị xã Thái Nguyên. Khi đó, các mục tiêu của Quân Giải phóng không còn là pháo đài và tỉnh lỵ nữa mà là pháo đài, thị trấn và thị trấn. Bác Hồ căn dặn: “Bây giờ là lúc, dù hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Ngày 21 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản đầu hàng. Tuyên Quang được giải phóng. Thắng lợi của cuộc tiến công vào các tỉnh ở Thái Nguyên là một thắng lợi của Quân giải phóng đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chính trị, quân sự và binh vận để tiến công địch.

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám nổ ra trong cả nước chỉ trong 12 ngày (14-25/8/1945). Chính quyền cách mạng của nhân dân được thành lập từ trung tâm đến các làng xã. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

3. Ý nghĩa tên Vệ Quốc Đoàn:

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới thành lập đã rơi vào tình thế hiểm nghèo, có thù trong, giặc ngoài. Ở phía bắc, quân của Tưởng Giới Thạch đến giải giáp quân Nhật. Ở phía Nam, thực dân Anh mở đường cho thực dân Pháp biến Việt Nam trở lại thời thuộc địa. Vào thời điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã thực hiện sách lược mềm dẻo “dĩ bất biến, ứng vạn biến” để giữ vững nền độc lập của nước nhà. Trước sức ép của quân đội Tưởng Giới Thạch, ta linh hoạt đưa đảng vào hoạt động bí mật, đảng tuyên bố “tự giải tán”. Đáp lại yêu cầu giải tán đội quân chính quy của Tưởng, Quân giải phóng Việt Nam đổi tên thành Vệ quốc đoàn (còn gọi là Vệ quốc đoàn) vào tháng 11 năm 1945. Quân số của ta lúc bấy giờ khoảng 50.000 người. người và tổ chức thành khoảng 40 chi đội ở hầu hết các tỉnh miền Bắc và miền Trung. Một số nhánh “Nam tiến” giúp quân dân Nam Bộ chống thực dân Pháp đang xâm lược và tái xâm lược Nam Bộ.

Xem thêm bài viết hay:  Carbon footprint là gì? Cách giảm thiếu dấu chân Carbon?

4. Ý nghĩa tên gọi Quân đội Quốc gia Việt Nam:

Ngày 22 tháng 5 năm 1946, Vệ quốc đoàn đổi tên thành Quân đội quốc gia Việt Nam theo Sắc lệnh 71/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng Tham mưu. Quân đội ta lúc bấy giờ được tổ chức biên chế thống nhất gồm trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội… Bên cạnh việc xây dựng quân đội toàn dân, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng và bán vũ trang, trong đó có lực lượng dân quân tự vệ ở các địa phương. nông thôn và tự vệ ở đô thị.

Trong những năm 1945-1950, có những người lính trong bộ đội thực dân, đế quốc sang xâm lược Việt Nam, trước sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và cuộc chiến tranh chính nghĩa của quân và dân ta đã tình nguyện nhập ngũ. Đội ngũ chúng tôi cùng nhau tham gia chiến đấu và công tác trên nhiều lĩnh vực như chỉ huy, tham mưu, kế hoạch, huấn luyện, quân phục, quân y, huấn luyện… Nhiều người được giao nhiệm vụ quan trọng và được phong quân hàm. Quan thoại. Họ đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong những ngày đầu mới hình thành.

5. Ý nghĩa tên Quân đội nhân dân Việt Nam:

Từ năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên là Quân đội nhân dân, nghĩa là “của dân, vì dân mà chiến đấu, vì dân phục vụ”. Đồng thời, các đại đội chủ lực cơ bản (tương đương sư đoàn) được thành lập như đại đoàn 308, 304, 312, 320, 316, 325, 351 là những đơn vị chủ lực của quân đội ta cho đến ngày nay.

Từ một đội quân chỉ vài trăm người tham gia tổng khởi nghĩa, quân đội nhân dân Việt Nam đã phát triển thành lực lượng chủ lực hùng hậu, lập nên những chiến công hiển hách, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên. Phú ngày 7-5-1945, đập tan âm mưu khôi phục thuộc địa của thực dân Pháp.

Xem thêm bài viết hay:  Mẫu phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng Giêng hay nhất

Danh hiệu Quân đội nhân dân Việt Nam từ đó được cả nước biết đến. Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết năm 1954, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền. Nhân dân Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Nhiệm vụ của quân đội thời kỳ này là vừa thiết lập trật tự, vừa bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tham gia đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 15 tháng 2 năm 1961, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, là lực lượng quân sự của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam, kết hợp giữa lực lượng vũ trang địa phương và lực lượng chi viện từ miền Bắc. . Trước sự can thiệp ngay lập tức của quân đội Mỹ, quân đội nhân dân Việt Nam đã sát cánh cùng nhân dân và các lực lượng vũ trang khác tiến hành cuộc kháng chiến toàn diện, trường kỳ và gian khổ của tất cả mọi người. Điển hình là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 chống lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, mà đỉnh cao là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12. 1972; kết thúc thắng lợi bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ngày 30-4-1975, thống nhất đất nước, mở ra thời kỳ phát triển mới của đất nước.

Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam do đó là tên gọi mới, nhưng là một bộ phận cấu thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Sự thật lịch sử chứng tỏ, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã hoàn thành vai trò, sứ mệnh lịch sử vẻ vang về mọi mặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng. Sau năm 1975, đất nước thống nhất, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam hợp nhất với Quân đội nhân dân Việt Nam để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. giáo lý.

Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng thường trực gồm bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, với tổng quân số khoảng 450.000 người, dự bị động viên khoảng 5 triệu người. Bộ đội chủ lực là thành phần chủ yếu của Quân đội nhân dân Việt Nam, bao gồm lực lượng cơ động, lực lượng vũ trang, binh chủng, chủ lực các quân khu, đặc công kỹ thuật. Ngoài nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, các đơn vị còn có hệ thống dự bị hậu cần, kỹ thuật; các học viện, viện nghiên cứu, trường sĩ quan, trường kỹ thuật các cấp.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Ý nghĩa tên gọi Quân đội nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận