Việt Nam rút ra bài học gì về sự phát triển thần kì của Nhật Bản?

Tìm hiểu về Nhật Bản? Phép màu kinh tế Nhật Bản? Việt Nam rút ra bài học gì từ sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản? Cơ hội cho Việt Nam học hỏi kinh tế Nhật Bản? Thách thức để Việt Nam học hỏi kinh tế Nhật Bản?

Nhật Bản là một quốc gia đã trải qua nhiều thăng trầm, khó khăn và biến động trong suốt những năm dài lịch sử. Đặc biệt sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản bị thiệt hại vô cùng nặng nề nhưng họ đã phục hồi rất nhanh chóng và thậm chí chỉ trong 20 năm, nền kinh tế Nhật Bản đã được đánh giá bước vào giai đoạn phát triển. huyền diệu.

1. Tìm hiểu về Nhật Bản:

Nhật Bản là một quốc gia nằm ở Đông Á với tổng diện tích 379.954 km². Nhật Bản nằm ở rìa phía đông của Lục địa Châu Á giáp với Trung Quốc, Triều Tiên, Nga và Đài Loan.

Về khí hậu:

Khí hậu Nhật Bản ôn đới và Nhật Bản có 4 mùa rõ rệt, mỗi mùa có một khí hậu khác nhau tùy theo chiều dài của đất nước. Nhật Bản nổi tiếng với số lượng đảo và núi lửa. Phía trong, Có khoảng 6.852 hòn đảo và 186 ngọn núi lửa đang hoạt động nên được mệnh danh là quần đảo núi lửa.

Dân số:

Dân số Nhật Bản đứng thứ 10 thế giới với khoảng 126,9 triệu người. Tokyo, với hơn 35 triệu dân, là thành phố đông dân thứ tám trong OECD với nền kinh tế đô thị phát triển nhất thế giới.

Phát triển kinh tế:

Từ năm 1974 đến nay, tuy tốc độ tăng trưởng có chậm lại so với sau chiến tranh thế giới thứ hai nhưng nền kinh tế Nhật Bản vẫn đứng thứ ba thế giới. Từ năm 1990 đến 2010, Nhật Bản chỉ đứng sau Mỹ về kinh tế, nhưng từ đầu năm 2010, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản để đứng thứ hai thế giới. Cán cân thương mại thặng dư và dự trữ ngoại tệ đứng đầu thế giới nên vốn đầu tư của Nhật Bản ra nước ngoài nhiều, đồng thời là nước cho vay và viện trợ lớn nhất thế giới để tái thiết và phát triển. Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính ngân hàng hàng đầu thế giới. Đơn vị tiền tệ là: Yên Nhật.

Các ngành công nghiệp chính của Nhật Bản bao gồm: Ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, bán lẻ, giao thông vận tải và viễn thông. Đặc biệt, Nhật Bản có năng lực công nghiệp rất lớn, đây là nơi đặt trụ sở của nhiều hãng sản xuất các sản phẩm xe có động cơ, thiết bị điện tử, máy công cụ có công nghệ tiên tiến nhất thế giới. máy móc, thép, phi kim loại, đóng tàu, hóa chất, dệt may, chế biến thực phẩm. Đây cũng là nơi đặt trụ sở chính của các tập đoàn đa quốc gia và nhiều hạng mục thương mại trong lĩnh vực công nghệ và máy móc. Xây dựng từ lâu đã là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất của Nhật Bản.

Nhật Bản là quê hương của một trong những ngân hàng lớn nhất thế giới, Tập đoàn tài chính Mitsubishi UFJ (Mitsubishi UFJ Financial Group). Nhật Bản cũng là quê hương của thị trường chứng khoán lớn thứ hai thế giới – Sở giao dịch chứng khoán Tokyo với khoảng 549,7 nghìn tỷ yên tính đến tháng 12 năm 2006. Đây cũng là quê hương của một số công ty dịch vụ tài chính, tập đoàn kinh doanh và ngân hàng lớn nhất thế giới.

Xem thêm bài viết hay:  Polime là gì? Cấu tạo, tính chất và ứng dụng của Polymer?

2. Sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế Nhật Bản:

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nền kinh tế Nhật Bản lâm vào khủng hoảng trầm trọng; thiếu năng lượng, kinh tế lạm phát, vấn đề thất nghiệp… Nhật Bản bị quân đội Mỹ chiếm đóng.

Hầu hết các cơ sở sản xuất đã được chuyển đổi sang sản xuất chiến tranh, hầu hết đã bị phá hủy trong chiến tranh. 6 triệu binh lính và dân thường Nhật Bản từ khắp các vùng chiến sự ở Thái Bình Dương trở về nhà, chính phủ nước này phải đối mặt với gánh nặng – thất nghiệp.

=> Đây là lực cản trong quá trình phục hồi kinh tế.

Nhật Bản đã thực hiện một số cải cách lớn về kinh tế – xã hội:

– Giải thể các nhóm Zaibatsu: Việc này nhằm tiêu diệt sức mạnh quân sự của Nhật Bản, loại bỏ quyền kiểm soát của một số công ty lớn trong nền kinh tế.

– Đồng thời, thực hiện tái cấu trúc các công ty theo hướng tập trung hóa. Giải pháp này đã tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ cho tất cả các ngành và thúc đẩy mạnh mẽ cơ chế thị trường,

– Giải quyết vấn đề việc làm: Cải thiện điều kiện làm việc, tăng lương cho người lao động. Đặc biệt, thực hiện dân chủ hóa lao động.

Trong thời kỳ 1945-1947, ba đạo luật đã được ban hành là Luật Công đoàn, Luật Tiêu chuẩn Lao động và Luật Điều chỉnh Quan hệ Lao động.

=> Những cải cách này nhằm tạo điều kiện để Nhật Bản phục hồi kinh tế và chuyển phương hướng từ nhà nước quân phiệt sang nhà nước theo hướng phát triển kinh tế.

Cải cách ruộng đất: Địa chủ chỉ được giữ một phần ruộng đất, tối đa là 5 ha, giảm xuống còn 1 ha. Phần còn lại nhà nước sẽ mua và chuyển giao cho nông dân không có đất.

Phát triển phép thuật:

– Tăng trưởng kinh tế nhanh

Từ năm 1952 đến năm 1973, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế của Nhật Bản cao nhất trong các nước tư bản chủ nghĩa. So với thời điểm năm 1950, năm 1973 giá trị tổng sản phẩm quốc nội đã tăng hơn 20 lần, từ 20 tỷ USD lên 402 tỷ USD, vượt Anh, Pháp, Đức.

Từ năm 1951 đến năm 1973, nền kinh tế Nhật Bản bước vào giai đoạn phát triển thần kỳ

Tốc độ phát triển công nghiệp thời kỳ 1950 – 1960 là 15,9%; từ 1960-1969 là 13,5%. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng từ 4,1 tỷ USD năm 1950 lên 56,4 tỷ USD năm 1969.

– Các ngành công nghiệp phát triển và thúc đẩy

Các ngành công nghiệp trọng điểm đã phát triển với tốc độ nhanh chóng. Nhật Bản tuy hầu như không có mỏ dầu nhưng đứng đầu các nước tư bản về nhập khẩu và chế biến dầu thô. Riêng năm 1971 nhập 186 triệu tấn dầu thô; sản lượng thép năm 1950 là 4,8 triệu tấn, năm 1973 là 117 triệu tấn.

Năm 1960, ngành công nghiệp ô tô của Nhật Bản đứng thứ sáu trong thế giới tư bản và đến năm 1967 đã vươn lên vị trí thứ hai sau Mỹ.

Xem thêm bài viết hay:  Soạn bài Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng (tác giả – tác phẩm)

Công nghiệp đóng tàu cho đến những năm 1970 chiếm 50% tổng số tàu và có sáu trong số mười nhà máy đóng tàu lớn nhất thế giới tư bản.

Sự phát triển nhanh chóng của một số ngành kinh tế chủ yếu đã làm thay đổi nhanh chóng cơ cấu ngành công nghiệp chế tạo của Nhật Bản. Tỷ trọng khu vực nông-lâm-ngư nghiệp giảm mạnh. Thay vào đó là sự tăng trưởng trong công nghiệp và dịch vụ.

Đến nay, Nhật Bản đã vươn lên trở thành “con rồng châu Á” với nền kinh tế phát triển mạnh mẽ

Hiện nay, Nhật Bản là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất châu Á và thế giới, được ví như “con rồng châu Á”. Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, Nhật Bản đã và đang đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động từ nhiều nước trong khu vực, trong đó, Việt Nam là một trong những thị trường chính.

Những yếu tố mang lại sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản:

– Phát huy vai trò của nhân tố con người

Sự phát triển “thần kỳ” của nền kinh tế Nhật Bản phải kể đến yếu tố đầu tiên là con người. Kế thừa nền giáo dục của thời kỳ trước, kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã phổ cập hệ thống giáo dục 9 năm. Trên cơ sở đó, người Nhật chú trọng đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, có khả năng nắm bắt và sử dụng kỹ thuật, công nghệ mới.

Sự phát triển thần kỳ của kinh tế – trước hết là yếu tố con người

Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của Nhật Bản khá đông đảo và có chất lượng cao, đóng góp lớn vào sự phát triển vượt bậc về kỹ thuật và công nghệ của đất nước.

Các nhà quản lý doanh nghiệp cũng được đánh giá là những người nhạy bén, biết nắm bắt thị trường và đổi mới phương thức kinh doanh, mang lại những chiến thắng cho các công ty Nhật Bản trên trường quốc tế.

– Duy trì tích lũy và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư

“Đất nước mặt trời mọc” được coi là nước có tốc độ tích lũy tư bản cao nhất trong số các nước tư bản phát triển. Tỷ lệ tích lũy tư bản thường xuyên thời kỳ 1052-1973 vào khoảng 30-35% thu nhập quốc dân.

Đặc biệt, tỷ trọng đầu tư vào vốn cố định trong tổng sản phẩm xã hội của Nhật Bản cao. Đây là một trong những yếu tố quyết định, đảm bảo cho nền kinh tế Nhật Bản phát triển với tốc độ cao.

Về sử dụng vốn, Nhật Bản cũng là nước mạnh dạn sử dụng vốn hiệu quả. Tại Nhật, nhiều ngân hàng thương mại chấp nhận cho vay tới 95% tổng số vốn. Biện pháp có phần mạo hiểm này tạo điều kiện cho lượng vốn chuyển vào sản xuất kinh doanh tăng nhanh.

3. Việt Nam rút ra bài học gì từ sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản?

– Ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất.

– Tăng cường vai trò quản lý, điều tiết của nhà nước trong phát triển nền kinh tế nhiều ngành, nhiều thành phần của Việt Nam.

Xem thêm bài viết hay:  Văn học dân gian là gì? Đặc trưng của thể loại văn học dân gian?

Bên cạnh đó, có một số bài học khác mà Việt Nam có thể rút ra từ sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản như sau:

– Sẵn sàng tiếp thu những giá trị tiến bộ của thế giới nhưng vẫn giữ được bản sắc dân tộc.

– Tổ chức quản lý xí nghiệp, công ty hiệu quả.

– Đề cao vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc hoạch định chiến lược phát triển, nắm bắt đúng thời cơ và có những điều chỉnh cần thiết để đưa nền kinh tế tăng trưởng liên tục.

– Phát triển con người, chú trọng giáo dục và đào tạo, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, có ý chí vươn lên, cần cù lao động, đề cao kỷ luật, coi trọng tiết kiệm.

4. Cơ hội để Việt Nam học hỏi kinh tế Nhật Bản:

– Nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển và có nguồn lao động ngày càng chất lượng. Đây là cơ hội để Việt Nam vận dụng kinh nghiệm phát triển kinh tế của Nhật Bản vào phát triển kinh tế Việt Nam.

– Cùng thuộc khu vực châu Á nên có những nét tương đồng nhất định về lịch sử, truyền thống, văn hóa, nhất là tương đồng về điều kiện địa lý, tự nhiên.

5. Những thách thức để Việt Nam học hỏi kinh tế Nhật Bản:

Thể chế kinh tế của hai nền văn hóa, hai quốc gia là khác nhau. Việt Nam theo thể chế dân chủ cộng hòa còn Nhật Bản theo thể chế quân chủ lập hiến.

Sự khác biệt về tính cách, lối sống của con người:

– Người Nhật sống nghiêm khắc và kỷ luật, trong khi đa số người Việt vẫn theo lối sống tự do

– Người Nhật khi làm việc, hay làm bất cứ việc gì trong cuộc sống thường lên một kế hoạch cụ thể và luôn bám sát kế hoạch đó để tiến hành công việc.

Trong khi đó, nếu so sánh sẽ thấy người Việt thích nghi khá nhanh nếu có sự thay đổi. Có nhiều thay đổi liên tục như người Nhật sẽ nghĩ: “Sao giờ mới nói?”, người Việt có thể xử lý dễ dàng. Thay vào đó, người Việt Nam luôn có xu hướng bắt đầu công việc sát deadline.

– Người Nhật có xu hướng tránh làm mất lòng người khác, người Nhật hiếm khi nói “không” với những người họ không thân thiết.

Thay vào đó, họ thường nói vòng vo và mong nhận được sự thấu hiểu của đối phương khi giao tiếp. Họ không thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của mình một cách rõ ràng mà luôn giữ cảm xúc đó ở một giới hạn rất mơ hồ. Do đó, không dễ để biết người kia đang nghĩ gì và cảm thấy thế nào.

Ở Việt Nam, hầu hết mọi người sẽ nói ra vấn đề của họ rằng họ bận, hoặc thậm chí thẳng thắn là không muốn đi vì lý do nào đó. Đối với người Việt Nam, nói ra là cách để chứng tỏ sự chân thành của mình với đối phương.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Việt Nam rút ra bài học gì về sự phát triển thần kì của Nhật Bản? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận