Vi khuẩn HP dạ dày là gì? Đối tượng và dấu hiệu nhận biết?

Helicobacter pylori dạ dày là gì? Đối tượng Hp. Triệu chứng nhiễm Hpv?

Helicobacter pylori là vi khuẩn có hại với những ảnh hưởng sức khỏe cụ thể. Do đó, cần phát hiện và điều trị sớm để tránh những biến chứng của nó. Hơn 50% dân số thế giới chứa vi khuẩn H. pylori trong đường tiêu hóa, đặc biệt tỷ lệ này tăng lên hơn 90% ở các nước phát triển. Helicobacter pylori là loại vi khuẩn làm suy giảm chức năng của niêm mạc dạ dày. Nếu để lâu có thể gây xung huyết dạ dày, hình thành vết loét, nghiêm trọng hơn là thủng dạ dày, ung thư dạ dày….

Helicobacter pylori là xoắn khuẩn gram âm, hình chữ S, hiếu khí, kích thước khoảng 0,2-0,5 µm, có 4-6 roi, di động, có các enzym như oxidase, protease, phospholipase…

Helicobacter pylori có thể sự phát triển ở nhiệt độ từ 30-40 độ C, chịu được môi trường pH từ 5-8,5. Đây là một loại vi khuẩn sống và phát triển trong lớp nhầy bao phủ niêm mạc dạ dày hoặc giữa lớp nhầy và bề mặt của lớp tế bào biểu mô hoặc ở các điểm nối giữa các tế bào này. Ngoài việc sinh sôi và phát triển trong dạ dày, vi khuẩn HP còn sống ở thực quản và đại tràng. Loại vi khuẩn này là một trong những nguyên nhân gây viêm loét dạ dày tá tràng và có liên quan đến ung thư dạ dày.

Helicobacter pylori được nuôi cấy tốt nhất trên môi trường chọn lọc và dùng kháng sinh thích hợp như trimethoprim, amphotericin B, cefsulodin, vancomycin để ức chế nấm và vi khuẩn. Mẫu mô niêm mạc dạ dày dùng để nuôi cấy Hp không được để quá 2 giờ ở nhiệt độ phòng. Khi nuôi cấy sẽ thấy vi khuẩn mọc trong môi trường đặc, xuất hiện khuẩn lạc nhỏ từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 5 trên bề mặt địa thạch.

Thiên nhiên:

Vi khuẩn Helicobacter pylori là nguồn gốc của nhiều căn bệnh khác nhau như viêm dạ dày mãn tính, ung thư dạ dày hay viêm loét dạ dày, tá tràng…. Và theo thống kê có đến 90-95% bệnh nhân viêm loét hành tá tràng là do nhiễm H. Hơn 70% của bệnh nhân viêm loét dạ dày tá tràng cũng do H. Và Helicobacter pylori cũng là nguyên nhân gây ra 90% ca ung thư dạ dày…. Tuy nhiên, vi khuẩn Hp chỉ là một trong những nguyên nhân gây bệnh, ngoài ra nó còn phụ thuộc vào các yếu tố như môi trường, nguồn gen của người nhiễm bệnh, v.v..

Do vi khuẩn HP sống trong môi trường dạ dày nên lâu ngày chúng sẽ gây ra các triệu chứng viêm loét dạ dày, thành tá tràng, trào ngược dạ dày,… Khi tình trạng nặng sẽ gây ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt của người bệnh. Chính vì vậy việc thăm khám định kỳ là vô cùng quan trọng để bạn có thể phát hiện sớm bệnh, từ đó có phương pháp điều trị bệnh tốt nhất.

Xem thêm bài viết hay:  Tư tưởng vô vi trong Đạo Phật và tư tưởng vô vi của Lão tử

Cơ chế lây truyền:

Cơ chế lây truyền của vi rút Hpv bao gồm từ người sang người, qua nước hoặc dịch tiết miệng bị ô nhiễm, lây truyền qua chăm sóc y tế. Lây truyền từ người sang người là qua đường miệng như miệng sang miệng, phân qua miệng và từ nước là do nước nhiễm H. Ví dụ, đối với bệnh viêm dạ dày do vi khuẩn Hp, giai đoạn đầu lây nhiễm, Sau khi vào dạ dày người bệnh, vi khuẩn Hp sẽ tiết ra men urease để phân giải urê trong dạ dày thành amoniac, chất này sẽ trung hòa làm trung hòa môi trường axit bao quanh vi khuẩn, giúp vi khuẩn này tồn tại.

Tiếp theo, vi khuẩn Hp sẽ tiết ra phospholipase và amoniac được tạo ra từ quá trình thủy phân urê làm cho lớp chất nhầy ngày càng mỏng hơn, nhờ hình dạng xoắn ốc và lông mao, vi khuẩn di chuyển qua lớp chất nhầy để đến lớp đáy, nơi có độ pH khoảng 7,0. Các lông mao chịu trách nhiệm cho sự kết dính của vi khuẩn với các tế bào biểu mô.

xem thêm: Quyền lợi BHYT khi điều trị nội trú, ngoại trú

Do sự tương tác giữa các yếu tố bám dính của vi khuẩn và các thụ thể trên bề mặt tế bào biểu mô, vi khuẩn được bảo vệ khỏi bị trục xuất bởi nhu động dạ dày. Cuối cùng, Helicobacter pylori tiết ra độc tố gây tổn thương mô. Bề mặt của lớp biểu mô dạ dày là nơi tương tác giữa vi khuẩn HP và vật chủ, tiết ra protein kích hoạt bạch cầu khởi động miễn dịch bẩm sinh và kích hoạt bạch cầu trung tính, dẫn đến các bệnh viêm nhiễm. ung nhọt .

Một số mầm bệnh chính:

Các chất do H. pylori tiết ra bao gồm: urease, phospholipase, alcohol dehydrogenase, vacA, cagA, carbonic anhydrase, superoxide dismutase, catalase, yếu tố hoạt hóa tiểu cầu, neuramidase, fucosidase và protein hoạt hóa bạch cầu trung tính của H. pylori. vi khuẩn.

Khi bị nhiễm vi khuẩn Hp sẽ kích thích tế bào chủ tăng phiên mã các cytokine tiền viêm và chymokine dẫn đến phản ứng viêm biểu hiện bằng sự xâm nhập của bạch cầu trung tính vào lớp cơ. niêm phong. Ngoài ra, men urease do H. pylori tiết ra kích thích các tế bào biểu mô sản xuất các chất tiền viêm làm tăng phản ứng viêm tại chỗ.

Helicobacter pylori di chuyển qua lớp niêm mạc lên bề mặt niêm mạc, nơi có độ pH trung tính để sinh sống và phát triển thành tế bào ký chủ để gây bệnh. Enzyme urease xúc tác quá trình thủy phân urê, một sản phẩm của quá trình phân hủy protein trong thức ăn trong dạ dày, cuối cùng tạo ra NH4+, vừa là chất độc hại vừa là chất kháng axit để Hp tồn tại. Các yếu tố bám dính bao gồm: BabA, SabA và SabB, OipA là các protein màng ngoài, giúp vi khuẩn tăng cường khả năng bám dính vào tế bào biểu mô dạ dày để gây bệnh.

Xem thêm bài viết hay:  Tin giả là gì? Đăng tin giả, tung tin giả bị xử phạt như thế nào?

Lý do:

Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori do nhiều yếu tố khác nhau gây ra và các yếu tố điển hình gây nhiễm vi khuẩn Hp bao gồm:

– Yếu tố di truyền: Nếu người thân có tiền sử nhiễm Hp thì người đó sẽ có khả năng nhiễm Hp cao hơn những người bình thường khác như bố mẹ nhiễm Hp thì con cái họ cũng có khả năng này.

xem thêm: Nội trú là gì? Phân biệt giữa điều trị nội trú và ngoại trú?

– Yếu tố môi trường: Chẳng hạn như sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm, bởi đây là môi trường lý tưởng để vi khuẩn HP sinh sôi.

– Dùng chung đồ gia dụng hoặc dụng cụ y tế, thiết bị y tế chưa được khử trùng cũng làm tăng nguy cơ nhiễm H.

2. Đối tượng nhiễm Helicobacter pylori:

Helicobacter pylori xảy ra ở mọi lứa tuổi. Theo thống kê, khoảng 50% dân số thế giới nhiễm H. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ thuộc vào lứa tuổi dựa trên thói quen lối sống hay khu vực địa lý….

Trẻ em sẽ là đối tượng dễ bị lây nhiễm vi khuẩn Hpv nhất vì người lớn chúng ta thường có thói quen hôn môi, ăn thức ăn… Vì một trong những con đường lây nhiễm vi khuẩn Hp là đường miệng. Loại vi khuẩn này không chỉ tồn tại trong dạ dày mà còn tồn tại trong nước bọt nên rất dễ lây nhiễm cho người tiếp xúc với nước bọt bị nhiễm bệnh.

Tuy nhiên, mặc dù tỷ lệ nhiễm bệnh ở trẻ em khá cao nhưng các triệu chứng không rõ ràng, không gây biến chứng trên đường tiêu hóa nên rất khó nhận biết.

3. Dấu hiệu nhận biết khi bị nhiễm Hp.

Các dấu hiệu để nhận biết vi khuẩn HP thường rất khó nhận biết bởi các triệu chứng do vi khuẩn HP gây ra thường không rõ ràng và khó nhận biết. Biểu hiện thường gặp ở người nhiễm vi khuẩn HP là thường xuyên có những cơn đau bụng dai dẳng hoặc dữ dội vùng thượng vị, buồn nôn, ợ chua… Tình trạng này diễn ra nhiều hơn khi bị căng thẳng. dài.

Một số dấu hiệu cảnh báo nhiễm vi khuẩn HP bao gồm:

– Đau vùng thượng vị: Biểu hiện này rõ rệt nhất khi đói hoặc khi ăn no, bên cạnh đó người bệnh sẽ có cảm giác nóng rát ở cổ họng, cồn cào ở vùng bụng trên.

Xem thêm bài viết hay:  Khái quát về Triết học Tây Âu thời kỳ Phục hưng và Cận đại

xem thêm: Quy định về điều trị nội trú

– Đầy bụng, khó tiêu, ăn chóng no.

– Sụt cân không rõ nguyên nhân.

– Thường xuất hiện cảm giác buồn nôn, nôn, nhất là vào sáng sớm.

Đối với những trường hợp đau bụng dữ dội, đi ngoài phân đen hoặc có thể nôn ra dịch kèm theo máu thì hãy đến ngay cơ sở y tế để có kết quả chính xác và kịp thời.

Và một số phương pháp trong y học để phát hiện vi khuẩn hp đó là:

Phương pháp xâm lấn: Ở phương pháp này, bác sĩ sẽ sử dụng phương pháp nội soi dạ dày, tá tràng để đánh giá tình trạng viêm loét dạ dày, tá tràng, tình trạng viêm teo niêm mạc cũng như các tổn thương ung thư, tiền ung thư để theo dõi. theo dõi và phẫu thuật sớm. Sau khi nội soi, bác sĩ sẽ sinh thiết 2 mẫu mô để tiến hành test nhanh men urease, làm sinh thiết mô bệnh học hoặc nuôi cấy vi khuẩn, từ đó phát hiện người bệnh có nhiễm vi khuẩn HP hay không.

phương pháp không xâm lấn: Đối với phương pháp này, bác sĩ sẽ không cần nội soi dạ dày mà sẽ sử dụng các phương pháp như test hơi thở, test tìm vi khuẩn Hp trong phân hay xét nghiệm tìm kháng thể trong phân. máu.

Khi phát hiện nhiễm vi khuẩn HP, bên cạnh việc dùng thuốc, người bệnh cần lưu ý những điều sau để cải thiện tình trạng này, đó là hạn chế ăn quá no hoặc để quá đói, tốt nhất nên chia thành nhiều bữa nhỏ trong ngày; Các bữa ăn nên cách giấc ngủ 4 tiếng; Tuyệt đối không sử dụng đồ uống có cồn, chất kích thích…. Nên sử dụng nước sạch; Tránh để cơ thể quá căng thẳng…

xem thêm: Mẫu đơn xin xác nhận nằm viện, đang điều trị tại bệnh viện mới nhất

Mặc dù tỷ lệ người nhiễm vi khuẩn HP phát triển thành ung thư không quá cao nhưng không có nghĩa là ai đó sẽ trở thành người lớn, tình trạng nguy hiểm đến tính mạng đối với sức khỏe người bệnh vẫn sẽ xuất hiện nếu họ để tình trạng này diễn ra. trở nên nặng nề. Mỗi người nên có cách phòng ngừa và điều trị vi khuẩn hp một cách chủ động. Nhất là đối với những người có tiền sử mắc các bệnh về tiêu hóa hoặc có người thân trong gia đình từng bị nhiễm vi khuẩn HP. Phát hiện sớm vi khuẩn HP giúp quá trình điều trị hiệu quả hơn.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Vi khuẩn HP dạ dày là gì? Đối tượng và dấu hiệu nhận biết? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận