Văn học dân gian là gì? Đặc trưng của thể loại văn học dân gian?

Văn học dân gian là gì? Các thể loại văn học dân gian là gì? Nêu đặc điểm của thể loại văn học dân gian? Giá trị của văn học dân gian?

Văn học dân gian là một thể loại không thể thiếu trong chương trình Ngữ văn của chúng ta. Văn học dân gian bao gồm nhiều thể loại như truyền thuyết, truyện cười, truyện cổ tích,… Những thể loại này đã góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam. Vậy văn học dân gian là gì? Nêu đặc điểm của văn học dân gian?

1. Văn học dân gian là gì?

Văn học dân gian là tác phẩm nghệ thuật truyền miệng của con người có từ xa xưa, trải qua quá trình phát triển của nhiều thế kỷ và tồn tại cho đến ngày nay.

Loại hình văn học này chủ yếu là văn học truyền miệng, hầu như không được ghi chép lại, nó được truyền miệng từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác và bao gồm cả truyền thuyết, sử thi lưu truyền khắp thế giới. nhiều thế hệ.

2. Văn học dân gian có những thể loại nào?

Văn học dân gian bao gồm 12 thể loại: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, sử thi, ngụ ngôn, truyện cười, ca dao tục ngữ, thành ngữ, vè, câu đố, chèo.

2.1. Truyền thuyết:

Truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian Việt Nam, kể lại các nhân vật, sự kiện có liên quan đến lịch sử có thật thời xưa. Đặc trưng của thể loại này là tính kì ảo, hư cấu, cường điệu của các nhân vật, từ đó thể hiện cách nhìn của nhiều người đối với các nhân vật lịch sử trong truyền thuyết.

Một số tác phẩm nổi tiếng thuộc thể loại truyền thuyết trong dân gian là: Sơn Tinh Thủy Tinh, Thánh Gióng, Sự tích Hồ Gươm, Lạc Long Quân, Mỵ Châu Trọng Thủy… những tác phẩm này góp phần giúp người đọc hiểu thêm về lịch sử xa xưa của cha ông để lại, đồng thời cất lên những câu ca dao. ca ngợi những anh hùng đã có công xây dựng và bảo vệ đất nước.

2.2. Truyền thuyết:

Thần thoại là những câu chuyện dân gian về các vị thần, các nhân vật anh hùng, các nhà sáng tạo văn hóa… của thời cổ đại nhằm phản ánh quan niệm của người xưa về nguồn gốc của thế giới và sự sống. Mọi người. Thần thoại trong văn học Việt Nam gắn liền với tín ngưỡng, niềm tin của con người vào sức mạnh của tự nhiên, giải thích sự hiện tượng Thiên nhiên bao quanh chúng ta như trái đất quay quanh mặt trời…

Một số tác phẩm thần thoại nổi tiếng như: 12 Bà Mụ, Thần Trù Trời, Nữ Thần Mặt Trăng, v.v. Tuy nhiên, thần thoại đã bị đồng hóa với các thể loại văn học dân gian như truyền thuyết, truyện cổ tích, v.v., chẳng hạn như tác phẩm của Son. Tinh Thủy Tinh, Lạc Long Quân – Âu Cơ.

2.3. Sử thi:

Sử thi là tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng nhằm ca ngợi sự nghiệp anh hùng có tính toàn dân, có ý nghĩa to lớn đối với dân tộc trong quá khứ. bình minh của lịch sử.

Xem thêm bài viết hay:  Cô Bé Bắc Nga là ai? Sự tích và đền thờ Cô Bé Bắc Nga?

Sử thi có cốt truyện đa dạng, đan xen giữa truyền thuyết và thần thoại. Nếu truyền thuyết có yếu tố kỳ ảo, hư cấu làm nền tảng cho quá trình phát triển và đóng góp của nhân vật thì sử thi anh hùng thường được thuật lại dựa trên những gì đã xảy ra trong thực tế.

xem thêm: Bản lĩnh là gì? Bình luận xã hội hay nhất về lòng dũng cảm?

Một số tác phẩm sử thi nổi tiếng: Đăm Săn, Cây nêu thần, Đẻ đất đẻ nước,..

2.4. Truyện cổ tích:

Truyện cổ tích là một thể loại văn học được sáng tác bởi những câu chuyện dân gian có tính chất hư cấu, huyền ảo. Truyện cổ tích khác với truyền thuyết. Truyền thuyết được lấy từ các nhân vật lịch sử trong khi truyện cổ tích được mọi người phát minh ra và truyền lại. Truyện cổ tích thường là những câu chuyện diễn ra hàng ngày, mong ước về một cuộc sống bình đẳng, kẻ ác bị đào thải và người lương thiện được sống hạnh phúc.

Một số truyện cổ tích nổi tiếng: Tấm Cám, Sọ dừa, Cóc kiện trời,…

2.5. Truyện ngụ ngôn:

Truyện ngụ ngôn là truyện dân gian có thể kể bằng văn xuôi hoặc văn vần, truyện ngụ ngôn thường mượn hình ảnh sự vật, con vật và nhân hóa để diễn tả mối quan hệ giữa người với người, răn dạy cách ứng xử của con người. Thông qua những hình ảnh, tình huống, cốt truyện của truyện ngụ ngôn, đó là những thông điệp gửi gắm những bài học về đạo đức, lễ nghĩa, đạo đức con người, từ đó giúp người nghe rút ra kinh nghiệm sống. tránh phạm phải những sai lầm không đáng có, hướng tới cuộc sống thanh thản, đồng thời bồi dưỡng nhân cách giúp con người trở nên ngay thẳng, bản lĩnh và sáng suốt hơn.

Một số truyện ngụ ngôn nổi tiếng: Ếch ngồi đáy giếng, thầy bói xem voi, xem cáo, trùm nho..

2.6. Truyện cười:

Truyện cười là tác phẩm tự sự dân gian ngắn có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc dở khóc, dở cười trong đời sống để giải trí và phê phán.

Một số truyện cười: Lợn cưới áo mới, ba gà lớn…

2.7. Dân gian:

Ca dao là thể thơ trữ tình dân gian được sáng tác nhằm thể hiện thế giới nội tâm của con người và phản ánh đời sống sinh hoạt lịch sử. Ca dao có thể được trình bày dưới hình thức câu đơn thất ngôn, hoặc thể thơ lục bát truyền thống có phối nhạc.

xem thêm: Soạn bài ngắn môn Văn lớp 9 Những chân trời sáng tạo

Một số bài đồng dao hay như:

“Ai đi ngược về xuôi,

Nhớ ngày dỗ tổ tiên mồng mười tháng ba”

“Thân em như giọt mưa,

Hạt xuống giếng, hạt ra ruộng.

2.8. Tục ngữ:

Tục ngữ là một câu hoàn chỉnh, chỉ biểu đạt một ý có nội dung bình luận môi quan hệ công khai, truyền đạt kinh nghiệm sống, đưa ra những bài học đạo đức hay những điều đáng phê phán. Trong khi ca dao là những câu ca dao ngắn gọn, không có quy tắc nhất định thì tục ngữ ổn định với số lượng từ ngữ và quy tắc gieo vần cụ thể.

Xem thêm bài viết hay:  Cảm nhận về bài thơ Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi) hay nhất

Một số câu tục ngữ dân gian:

“Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”, “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, “Ăn bát cháo, chạy ba đồng”,… .

xem thêm: Nghị luận xã hội về sự đồng cảm sẻ chia trong xã hội

2.9. thành ngữ:

Thành ngữ là tập hợp những đoạn văn, câu, ngữ có sẵn, tương đối cố định và ổn định, không nhằm diễn đạt trọn vẹn một tư tưởng, nhận xét như tục ngữ mà nhằm biểu đạt một quan niệm nào đó dưới hình thức sinh động. . Và thành ngữ thuộc về ngôn ngữ.

Một số thành ngữ tiêu biểu:

“Chưa thấy quan tài mà không rơi nước mắt”, “Tiền nào của nấy”, “Tốt gỗ hơn nước sơn”,…

2.10. Câu đố:

Câu đố là một thể loại độc đáo của văn học dân gian, vừa có chất trí tuệ của ca dao tục ngữ, vừa có chất trữ tình của ca dao, vừa có chất hài hước dí dỏm của truyện cười, câu đối v.v. quen thuộc cho người nghe.

Một số câu đố:

“Bệnh gì bác sĩ bó tay?

– Đáp án: gãy tay.”

“Cái gì ăn lửa với nước than?

xem thêm: Các bước và cách làm bài văn nghị luận xã hội văn học đạt điểm cao

– Đáp án: tàu”,…

2.11. Đã:

Văn vè là một hình thức sáng tác dân gian bằng văn vần với thể thơ, thể thơ đa dạng, niêm luật thể hiện quan điểm khen, chê của người nói, đồng thời kể những câu chuyện hài hước, hay phản ánh hiện thực cuộc sống. Với sự kết hợp giữa nhạc tính và nhịp điệu, vần điệu được thể hiện dưới nhiều hình thức, từ câu 4, 5 chữ, thơ đồng âm, hát gim, nói…

Một số bài đồng dao hay: “Bà mưa đi chợ”, “Tiếng ve kêu”, “Con chim hót”,..

2.12. mái chèo:

Chèo là một loại hình sân khấu dân gian truyền thống lâu đời nhất và đậm chất dân tộc nhất của dân tộc Việt Nam. Nội dung chèo phản ánh nhiều mặt của cuộc sống, chủ đề mang ý nghĩa đạo đức, lời thoại dùng từ như trong cuộc sống hàng ngày nhưng ý nghĩa rất sâu sắc. Các truyện chủ yếu lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm; múa hát dân ca, dân vũ; Ca từ chủ yếu là thơ ca dân gian được phối lại một cách khéo léo. Hát chèo gồm có ba lối hát chính: nói lối, nói sử và nói láy. Ngôn ngữ chèo sử dụng nhiều câu thơ lục bát nhưng phóng khoáng về ngôn từ, cũng có đoạn sử dụng câu thơ cổ điển Trung Quốc.

Một số vở chèo nổi tiếng: “Kim Nham”, “Đồng tiền Vạn Lịch”, “Ngao, sò”,..

3. Đặc điểm thể loại văn học dân gian:

Văn học dân gian có hai đặc điểm tiêu biểu là tính truyền khẩu và tính tập thể.

3.1. Câu cửa miệng:

Văn học truyền miệng ra đời từ khi dân tộc chưa có chữ viết. Khi văn học viết ra đời, văn học truyền miệng vẫn phát triển rất mạnh vì một số nguyên nhân như văn học viết chưa thể hiện hết tâm tư, tình cảm, nguyện vọng và thực tiễn nghệ thuật của nhân dân. Còn văn học viết được lưu truyền bằng chữ viết, văn học dân gian được truyền miệng từ người này sang người khác, từ đời này sang đời khác và được phổ biến rộng rãi vì những tác phẩm này ngắn gọn, dễ nhớ.

Xem thêm bài viết hay:  Viết đoạn văn, bài văn tả cây bàng trên sân trường em siêu hay

Văn nghệ dân gian có nhiều hình thức diễn xướng khác nhau như hát, kịch, nói v.v.

xem thêm: Lập dàn ý, phân tích tâm trạng của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích

3.2. tính tập thể:

Văn học dân gian có tính tập thể vì văn học dân gian là sản phẩm của các cá nhân khi mới hình thành, nhưng sau đó có nhiều người tham gia chỉnh sửa, hoàn thiện tác phẩm để tác phẩm ngày càng hoàn thiện hơn.

Khác với tác phẩm văn học viết tồn tại dưới hình thức văn bản, sau khi hoàn chỉnh trở thành một chỉnh thể thống nhất, ổn định, tác phẩm văn học dân gian là một hệ thống mở.

Do quá trình tham gia sáng tác tập thể ở những nơi khác nhau, thời gian khác nhau, tác giả khác nhau nên đã tạo ra sự khác biệt giữa các văn bản với cùng một tác phẩm.

4. Giá trị văn học dân gian:

4.1. Văn học dân gian là một kho tri thức phong phú:

Tri thức văn học dân gian mang nhiều lĩnh vực: tự nhiên, xã hội, con người.

Văn học dân gian được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, những tri thức kinh nghiệm lâu đời của nhân dân thể hiện nhận thức tiến bộ của nhân dân.

Với 54 dân tộc anh em đến từ các vùng miền khác nhau, mỗi dân tộc đều có kho tàng văn hóa dân gian của riêng mình, qua đó bổ sung, làm phong phú thêm vốn tri thức của cả dân tộc Việt Nam.

4.2. Văn học dân gian có giá trị sâu sắc về đạo đức con người:

Văn học dân gian nhằm giáo dục con người về lòng nhân ái, nhân ái, lạc quan, yêu đời, tinh thần đấu tranh chống bất công, niềm tin vào cái thiện chiến thắng và tiêu diệt cái ác.

Văn học dân gian góp phần hình thành những phẩm chất tốt đẹp, giúp chúng ta nhận thức, bồi dưỡng những tình cảm cao đẹp, lẽ sống đúng đắn, định hướng phát triển, hoàn thiện nhân cách của bản thân.

xem thêm: Từ tượng thanh là gì? Tác dụng và ví dụ về từ tượng thanh?

4.3. Văn học dân gian có giá trị thẩm mỹ to lớn, góp phần quan trọng tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc:

Văn học dân gian được chắt lọc, mài dũa qua không gian và thời gian đã trở thành những viên ngọc sáng khi đến với chúng ta. Nhiều tác phẩm đã trở thành hình mẫu nghệ thuật cho chúng ta học tập. Từ hàng nghìn năm nay, văn học dân gian là nơi lưu giữ những giá trị thẩm mỹ của nhiều vùng miền khác nhau, tạo nên những bản sắc riêng biệt, là cơ sở cho nền văn học sau này.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Văn học dân gian là gì? Đặc trưng của thể loại văn học dân gian? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận