Văn bản hợp nhất là gì? Văn bản hợp nhất có phải văn bản pháp luật không?

Văn bản hợp nhất là gì? Văn bản hợp nhất có phải là văn bản quy phạm pháp luật không? Sự cần thiết ban hành văn bản hợp nhất? Đối tượng, phạm vi áp dụng kỹ thuật trộn văn bản? Cơ quan có thẩm quyền tổ chức hợp nhất văn bản? Nếu có sai sót trong văn bản hợp nhất thì xử lý như thế nào?

Hợp nhất văn bản gắn liền với việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, nhằm góp phần bảo đảm hệ thống pháp luật đơn giản, rõ ràng, dễ sử dụng. , nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa hiểu hợp nhất văn bản là gì? Văn bản hợp nhất có phải là văn bản quy phạm pháp luật không? Cơ quan nào có thẩm quyền tổ chức lập văn bản hợp nhất?

*Cơ sở pháp lý

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015;

Pháp lệnh hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật số 01/2012/UBTVQH13 ngày 22 tháng 3 năm 2012;

1. Văn bản hợp nhất là gì?

Căn hộ, chung cư Theo khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh số Văn bản hợp nhất 01/2012/UBTVQH13 ngày 22 tháng 3 năm 2012: “Văn bản được hợp nhất là văn bản được hình thành sau khi hợp nhất văn bản được sửa đổi, bổ sung với văn bản được sửa đổi, bổ sung.

Văn bản hợp nhất là thuật ngữ pháp lý dùng để chỉ văn bản được ban hành thông qua việc tổng hợp các văn bản có hiệu lực pháp luật không còn phù hợp và được sửa đổi, bổ sung một số nội dung bởi văn bản khác.

Văn bản hợp nhất được hình thành sau khi hợp nhất văn bản sửa đổi, bổ sung với văn bản sửa đổi, bổ sung, là sự tổng hợp các nội dung sửa đổi, bổ sung theo trình tự, thủ tục kỹ thuật nhất định. xác định.

Theo quy định, văn bản thống nhất là văn bản độc lập, được áp dụng trên thực tế để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, nội dung của văn bản được hợp nhất không được trái với nội dung của văn bản được hợp nhất. Ngoài ra, theo quy định của pháp luật, văn bản hợp nhất không được coi là văn bản quy phạm pháp luật.

hợp nhất văn bản là việc đưa nội dung sửa đổi, bổ sung tại văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của văn bản ban hành trước (sau đây gọi là văn bản sửa đổi, bổ sung) vào văn bản sửa đổi, bổ sung. , bổ sung theo quy trình, kỹ thuật quy định tại Pháp lệnh số 01/2012/UBTVQH13.

Ký kết tài liệu hợp nhất nghĩa là người có thẩm quyền ký xác nhận tính chính xác về nội dung và kỹ thuật hợp nhất của văn bản hợp nhất.

xem thêm: Căn cứ văn bản pháp luật nào để xử lý hành vi san lấp đất trái phép?

Văn bản được hợp nhất là văn bản sửa đổi, bổ sung và là văn bản sửa đổi, bổ sung.

Xem thêm bài viết hay:  Đặc phái viên là gì? Điều chưa biết về đặc phái viên Tổng thống?

2. Văn bản hợp nhất có phải là văn bản quy phạm pháp luật không?

Một văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành, quá trình thực hiện do tác động của nhiều yếu tố kinh tế – xã hội mà một số quy định không còn phù hợp nên cơ quan này đã ban hành văn bản khác để sửa đổi, bổ sung một số điều của văn bản hiện hành. Có những văn bản được sửa đổi, bổ sung không chỉ một lần. Như vậy, trường hợp một văn bản quy phạm pháp luật không sửa đổi, bổ sung thì chỉ phải đọc trên một văn bản đó, nếu có sửa đổi, bổ sung thì phải đọc đồng thời nhiều văn bản, văn bản ban hành lần đầu, văn bản sửa đổi. lần thứ hai, lần sửa thứ ba…

Điều đó gây khó khăn cho người tra cứu và sử dụng. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã yêu cầu: Văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung phải được thống nhất với văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung nhằm góp phần bảo đảm hệ thống pháp luật đơn giản, rõ ràng, dễ sử dụng và nâng cao hiệu quả thực thi. pháp luật, thì năm 2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật.

Ngoài ra, việc xác định thời điểm có hiệu lực của văn bản hợp nhất không theo một nguyên tắc thống nhất mà có nhiều cách xác định hiệu lực khác nhau của văn bản. Trong khi văn bản quy phạm pháp luật có ghi ngày hiệu lực rõ ràng, cụ thể để các chủ thể liên quan áp dụng. Đây là điểm hiển nhiên để nói rằng văn bản hợp nhất không phải là văn bản quy phạm pháp luật và do đó không có giá trị pháp lý.

3. Sự cần thiết ban hành văn bản hợp nhất:

Pháp luật Việt Nam là một quốc gia bao gồm một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồ sộ. Nhưng các văn bản này đã được ban hành một thời gian, có thể không còn phù hợp để áp dụng trên thực tế nên cần phải sửa đổi, bổ sung. Trên thực tế, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung rất nhiều. Điều này dẫn đến sự mập mờ và gây khó khăn cho việc tra cứu văn bản quy phạm pháp luật. Số lượng văn bản quy phạm pháp luật nhiều cũng dễ gây chồng chéo, làm cho hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trở nên phức tạp, khó áp dụng.

Đặc biệt, nhiều văn bản hiện hành đã sửa đổi, bổ sung một số điều nhưng không có hướng dẫn về các điều khoản đã hết hiệu lực và được thay đổi, bổ sung tại văn bản nào. Điều này ảnh hưởng đến việc tra cứu quy tắc của người dùng. Vì vậy, việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản hợp nhất là cần thiết để tổng hợp toàn bộ nội dung của văn bản cũ còn hiệu lực và văn bản sửa đổi, bổ sung.

Xem thêm bài viết hay:  Đất tôn giáo là gì? Phân biệt giữa đất cơ sở tôn giáo với đất tín ngưỡng?

Bên cạnh đó, việc Việt Nam tham gia các cam kết trong WTO và các hiệp định thương mại quốc tế đòi hỏi mọi thông tin phải được công khai, thống nhất, tránh hệ thống pháp lý rườm rà, phức tạp. Vì vậy, việc ban hành văn bản hợp nhất này là thực sự cần thiết.

4. Đối tượng và phạm vi áp dụng kỹ thuật hợp nhất văn bản:

Văn bản áp dụng kỹ thuật hợp nhất bao gồm văn bản được sửa đổi, bổ sung và văn bản được sửa đổi, bổ sung. Về bản chất, đây là văn bản được tổng hợp giữa nội dung văn bản sửa đổi, bổ sung và văn bản sửa đổi, bổ sung. Đó là việc thay thế, sửa đổi những nội dung không còn phù hợp trong văn bản cũ, được thay thế, bổ sung bằng một văn bản mới.

xem thêm: Văn bản quy phạm pháp luật là gì? Nêu đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật?

Sau khi hợp nhất văn bản sửa đổi, bổ sung và văn bản sửa đổi, bổ sung, văn bản hợp nhất sẽ có các quy phạm pháp luật, trong đó quy định rõ các điều khoản không được thay thế, bổ sung và các quy định của pháp luật. điều khoản đã được thay thế, bổ sung và có hiệu lực thi hành trong mỗi văn bản này. Trong văn bản hợp nhất, các điều khoản được sửa đổi và bổ sung sẽ xuất hiện ở cuối trang.

Cần rà soát lại việc ghi nội dung của các điều khoản sửa đổi, bổ sung, thay thế trong văn bản hợp nhất. Nếu số lần sửa đổi ít thì có thể thực hiện theo cách này, nhưng luật thay đổi, số lần thay đổi nhiều thì không thể thực hiện theo cách này, chỉ nên đưa ra hướng dẫn. Người sử dụng có thể tra cứu văn bản sửa đổi, bổ sung như trích dẫn số Công báo hoặc bất kỳ hình thức nào khác.

5. Cơ quan có thẩm quyền tổ chức hợp nhất văn bản:

  • Đối với văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội với cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị – xã hội sẽ được tổng hợp và ký xác nhận. thực hiện văn bản hợp nhất của Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày văn bản sửa đổi, bổ sung được công bố.
  • Đối với văn bản cần sửa đổi, bổ sung của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày ký ban hành, văn bản được sửa đổi, bổ sung phải được gửi đến cơ quan chủ trì, người chủ trì quyết định. Thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo thỏa thuận và tổ chức hợp nhất, ký chứng thực văn bản. Chậm nhất sau 05 ngày, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản sửa đổi, bổ sung hoàn thành việc hợp nhất văn bản và ký chứng thực văn bản hợp nhất.
  • Đối với văn bản của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, văn bản liên tịch do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao soạn thảo thì được hợp nhất và ký, chứng thực bởi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án nhân dân, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ký ban hành văn bản.
  • Đối với văn bản do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thì văn bản liên tịch do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành sẽ được tổng hợp và do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ký. Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoàn thành trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ký ban hành văn bản.
  • Đối với văn bản do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành và văn bản liên tịch do Bộ chủ trì soạn thảo thì Bộ trưởng, Thủ tướng Chính phủ tổ chức hợp nhất và chứng thực văn bản hợp nhất. Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ hoàn thành trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ký ban hành văn bản.
  • Đối với văn bản do Văn phòng Kiểm toán nhà nước ban hành, việc tổ chức hợp nhất và Tổng Kiểm toán nhà nước ký văn bản hợp nhất hoàn thành trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ký. ban hành văn bản.
Xem thêm bài viết hay:  Local Brand là gì? Tìm hiểu thông tin về Local Brand?

6. Xử lý thế nào nếu văn bản hợp nhất có sai sót?

Lỗi làm cho nội dung của văn bản được hợp nhất khác với văn bản được hợp nhất: Áp dụng quy định của văn bản được hợp nhất.

Nếu một lỗi được tìm thấy trong tài liệu hợp nhất cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện sai sót thì gửi kiến ​​nghị đến cơ quan thực hiện tổng hợp để kịp thời xử lý; trường hợp không xác định được cơ quan thực hiện việc tổng hợp thì gửi kiến ​​nghị đến Bộ Tư pháp để Bộ Tư pháp thông báo ngay cho cơ quan có trách nhiệm xử lý sai sót.

Thời hạn giải quyết đơn yêu cầu: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kiến ​​nghị, cơ quan thực hiện việc hợp nhất có trách nhiệm phối hợp với cơ quan đăng Công báo xử lý sai sót trong văn bản hợp nhất và đăng đính chính trên Công báo theo quy định của Luật này. quy định của pháp luật về Công báo.

Ghi chú: Văn bản hợp nhất bị xử lý sai phải được đăng Công báo, Trang thông tin điện tử của cơ quan.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Văn bản hợp nhất là gì? Văn bản hợp nhất có phải văn bản pháp luật không? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận