Ủy ban kinh tế là gì? Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban kinh tế?

Ủy ban Kinh tế là gì? Ủy ban Kinh tế có phải là cơ quan chuyên môn của Quốc hội không? Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban kinh tế?

Để đánh giá một quốc gia có phải là quốc gia phát triển hay không thì nền kinh tế của quốc gia đó là tiêu chí hàng đầu thể hiện sự đánh giá đó. Kinh tế – xã hội là hai vấn đề luôn song hành, có quan hệ mật thiết với nhau. Và Quốc hội để quản lý các vấn đề kinh tế của đất nước, đã tạo ra Ủy ban Kinh tế.

Luật sư Tư vấn pháp lý trực tuyến miễn phí qua tổng đài:

1. Ủy ban Kinh tế là gì?

Các quan hệ kinh tế ngày càng mở rộng về quy mô và tính chất phức tạp; hình thức kinh doanh ngày càng đa dạng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, ngày càng nhiều ngành nghề kinh doanh; sự hội nhập của các nước trên thế giới ngày càng sâu rộng,… Khi đó, để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững thì vấn đề quản lý nhà nước đối với nền kinh tế là vô cùng quan trọng.

Quốc hội giám sát tối cao mọi hoạt động của nhà nước. Việc quy định như vậy nhằm thể hiện quyền lực nhà nước thống nhất, không có mâu thuẫn, chồng chéo trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Qua giám sát việc thực hiện các Luật, Nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế, Quốc hội dễ dàng phát hiện những bất cập, kẽ hở hoặc lỗi thời của các luật, quy định. các văn bản luật, pháp lệnh trong cuộc sống. Từ đó làm cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về kinh tế nói riêng. Trong các chủ thể thực hiện quyền giám sát của Quốc hội, Ủy ban Kinh tế là cơ quan chuyên môn giúp Quốc hội thực hiện chức năng kiểm tra giám sát đối với các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế.

Nếu tại Luật tổ chức Quốc hội 2001 Ủy ban Kinh tế và Ngân sách là một trong những Ủy ban trực thuộc Quốc hội. Và đến khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội năm 2007 thì Ủy ban Kinh tế là Ủy ban riêng trực thuộc Quốc hội. Việc tách Ủy ban Kinh tế và Ngân sách thành Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính – Ngân sách nhằm chuyên môn hóa công việc của các ủy ban. Và quy định này được kế thừa tại khoản 2 Điều 66. Luật tổ chức Quốc hội 2014sửa đổi, bổ sung năm 2019.

Xem thêm bài viết hay:  Người làm chứng là gì? Quyền và nghĩa vụ của người làm chứng?

Ủy ban Kinh tế là cơ quan chuyên trách của Quốc hội, do Quốc hội thành lập với cơ cấu gồm Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm, các ủy viên thường trực hoạt động chuyên trách và các thành viên khác hoạt động kiêm nhiệm. nghĩa vụ.

2. Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban Kinh tế:

Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Kinh tế được quy định tại Điều 72 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi bổ sung năm 2019, cụ thể:

Thứ nhất, thẩm tra các dự án luật, dự án pháp lệnh thuộc lĩnh vực quản lý kinh tế, đất đai, tiền tệ, ngân hàng, hoạt động kinh doanh và các dự án khác do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội giao. .

Để giúp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành luật, pháp lệnh có hiệu quả, khả thi, Ủy ban Kinh tế thường bám sát quy trình soạn thảo dự án luật, pháp lệnh thông qua các hình thức: đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đồng thời, Ủy ban Kinh tế có thể tự mình hoặc phối hợp với cơ quan soạn thảo tổ chức khảo sát thực tế, tổ chức hội thảo, hội nghị chuyên đề trong đó tập trung lấy ý kiến ​​của các chuyên gia, đối tượng. dự kiến ​​sẽ được điều chỉnh bởi dự án luật, pháp lệnh khi được thông qua.

Xác minh này cho thấy kết quả thông qua báo cáo xác minh. Báo cáo thẩm tra sẽ giúp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội có cơ sở lý luận và thực tiễn để thảo luận có hiệu quả về dự án luật, pháp lệnh.

xem thêm: Đầu tư của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Thứ hai, chủ trì thẩm tra các chương trình, dự án, kế hoạch về mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách và nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội; kiểm tra chính sách tiền tệ cơ bản của đất nước. (Khoản 2)

Các các chương trình, dự án, kế hoạch về mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội và việc thực hiện chính sách kinh tế trước khi trình Quốc hội phải được xem xét, thẩm tra. về tính hợp pháp, hợp lý và tính khả thi trong thực tế. Việc kiểm tra, thẩm định này phải do cơ quan có thẩm quyền thực hiện. Đồng thời, việc xác minh này cũng thể hiện nguyên tắc “dân biết, dân quyết định, dân làm, dân kiểm tra” của Nhà nước ta. Hoặc thẩm tra báo cáo của Chính phủ cũng vậy, thẩm tra này sẽ là cơ sở để Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đánh giá hoạt động của Chính phủ về thực hiện nhiệm vụ kinh tế.

Xem thêm bài viết hay:  Bài thu hoạch Nghị quyết Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2020-2025

Thứ ba, giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong lĩnh vực quản lý kinh tế, đất đai, tiền tệ, ngân hàng, hoạt động kinh doanh; chủ trì giám sát hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc thực hiện các chương trình, dự án, kế hoạch về các mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách và nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội cơ bản. và thực thi chính sách kinh tế. (Khoản 3)

Giám sát việc thi hành luật, pháp lệnh trong lĩnh vực kinh tế nói riêng và việc thực hiện các Nghị quyết về nhiệm vụ kinh tế – xã hội của Quốc hội, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ sở thực tế để Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện tốt vai trò của mình trong hoạt động lập pháp của Quốc hội.

Sự giám sát này có thể được thể hiện qua nhiều hoạt động như: Giám sát trên cơ sở các văn bản, báo cáo của Chính phủ và các bộ ngành Trung ương về tình hình thực hiện Nghị quyết về nhiệm vụ kinh tế – xã hội của Chính phủ. Quốc hội về tình hình thi hành luật, pháp lệnh hoặc tổ chức đoàn công tác theo dõi thực tế các bộ, ngành ở trung ương và địa phương; giám sát trên cơ sở ý kiến ​​của cử tri, tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội, những tồn tại, hạn chế, phát hiện những vấn đề cần điều chỉnh của luật, pháp lệnh.

Qua giám sát tình hình thi hành luật, pháp lệnh trong lĩnh vực kinh tế, UBKT có thể phát hiện những kẽ hở của luật hoặc sự thiếu đồng bộ, chồng chéo của các luật với thực tế. để sửa chữa kịp thời.

Để đảm bảo các chương trình, dự án, kế hoạch về mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội và thực hiện chính sách kinh tế được thực hiện theo đúng mục đích và tiến độ khi được phê duyệt. phê duyệt, giám sát là một hoạt động không thể thiếu. Tuy nhiên, không thể để Chính phủ, cơ quan thuộc Chính phủ là bộ, cơ quan ngang bộ vừa là cơ quan thực hiện vừa là cơ quan giám sát việc thực hiện đó. Do đó, thẩm quyền giám sát sẽ thuộc về Ủy ban Kinh tế – cơ quan chuyên môn của Quốc hội về doanh nghiệp là hoàn toàn hợp lý. Ủy ban Kinh tế sẽ giám sát việc thực hiện các dự án, chính sách, nhiệm vụ kinh tế,… phù hợp với mục tiêu ban đầu đã đề ra.

Xem thêm bài viết hay:  Trang trí lễ kết nạp Đảng viên? Phông kết nạp Đảng viên mới?

Thứ tư, giám sát các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ về lĩnh vực Ủy ban phụ trách (Khoản 4). Việc giám sát văn bản do các chủ thể này ban hành nhằm phát hiện những văn bản hướng dẫn thi hành không phù hợp với quy định của Hiến pháp, Luật của Quốc hội, Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Qua đó, Ủy ban Kinh tế kiến ​​nghị Chính phủ sửa đổi, bãi bỏ các văn bản không phù hợp để đảm bảo hệ thống văn bản quy phạm pháp luật kinh tế phù hợp với đời sống, đôn đốc các bộ, ngành kịp thời ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. các văn bản hướng dẫn thi hành để sớm đưa luật vào thực thi.

xem thêm: Tổ chức kinh tế là gì? Đặc điểm và các hình thức tổ chức kinh tế ở Việt Nam?

Thứ năm, Ủy ban Kinh tế trình Quốc hội dự án luật, dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội về lĩnh vực mình phụ trách (Khoản 5). Đây là hoạt động xây dựng pháp luật trực tiếp của Ủy ban Kinh tế. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, khi nhận thấy cần phải có luật, pháp lệnh mới được ban hành để điều chỉnh các vấn đề kinh tế, Ủy ban Kinh tế sẽ xây dựng văn bản trình Chính phủ. trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án luật, dự án pháp luật đó.

Thứ sáu, kiến ​​nghị các vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan hữu quan và các vấn đề về quản lý kinh tế, đất đai, tiền tệ, ngân hàng và hoạt động kinh doanh (Khoản 6). Qua quá trình giám sát, nếu xét thấy cần có sự thay đổi về quản lý kinh tế, đất đai, tiền tệ, ngân hàng, hoạt động kinh doanh của các cơ quan liên quan, Ủy ban Kinh tế sẽ đưa ra kiến ​​nghị. những vấn đề đó để các cơ quan hữu quan này xem xét, điều chỉnh hoạt động quản lý của mình cho phù hợp với quy định của pháp luật và thực tiễn.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Ủy ban kinh tế là gì? Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban kinh tế? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận