Trung du niền núi Bắc Bộ là địa bàn cư trú của các dân tộc nào?

Vài nét về vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ? Vị trí địa lý? Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên? Cơ sở hạ tầng? Dân số vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ?

Với một đất nước có đông anh em dân tộc, với 54 dân tộc anh em. Sự phân bố các dân tộc cũng không đồng đều. Trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng đất rộng lớn của nước ta, tập trung đa dạng các dân tộc anh em với những nét đẹp văn hóa đa dạng.

1. Giới thiệu về vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ:

Trung du và miền núi Bắc Bộ Việt Nam thời kỳ trước 1954 được gọi là Trung du và miền núi, đây là vùng núi và bán sơn địa của miền Bắc Việt Nam. Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ gồm 14 tỉnh, tổng diện tích toàn vùng khoảng 116.898 km², chiếm 35% diện tích tự nhiên cả nước, nhiều tài nguyên, khoáng sản quý hiếm; Trong vùng có hơn 30 dân tộc anh em sinh sống, với dân số 14,7 triệu người, chiếm khoảng 15,2% dân số cả nước. Đây là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; cửa ngõ phía Tây và phía Bắc của Tổ quốc. Đồng thời, đây cũng là lĩnh vực có nhiều tiềm năng, lợi thế để Phát triển bền vững có nhiều tài nguyên, khoáng sản quý hiếm, diện tích đồi núi lớn, cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, tươi đẹp, nhiều danh lam thắng cảnh với các di sản văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc để phát triển. phát triển du lịch và bảo vệ môi trường sinh thái toàn vùng Bắc Bộ.

Về mặt hành chính, vùng này bao gồm các tỉnh phía Bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình , Quảng Ninh cùng 21 huyện, thị phía Tây của tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An. Về mặt địa lý, vùng này bao gồm 3 tiểu vùng: Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Thanh Hóa, Tây Nghệ An.

2. Vị trí địa lý:

Trung du và miền núi Bắc Bộ có vị trí địa lý khá đặc biệt, mạng lưới giao thông đang được nâng cấp ngày càng thuận lợi cho việc giao lưu với các vùng trong cả nước và xây dựng nền kinh tế mở. Sự phát triển của mạng lưới giao thông sẽ tạo điều kiện thông thương, trao đổi hàng hóa với vùng Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, cũng như phát triển nền kinh tế mở.

Trung du và miền núi Bắc Bộ phía bắc giáp ba tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam của Trung Quốc, phía tây giáp Lào, phía nam giáp đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, phía đông giáp Vinh Bắc Bộ.

Xem thêm bài viết hay:  Cưỡng chế là gì? Ưu nhược điểm của phương pháp cưỡng chế?

3. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên:

3.1. địa hình:

Trung du và miền núi Bắc Bộ bao gồm vùng núi Tây Bắc và vùng núi Đông Bắc.

Tây Bắc là vùng có chủ yếu là núi trung bình và cao. Đây là nơi có địa hình cao nhất, chia cắt nhất và hiểm trở nhất Việt Nam. Địa hình phổ biến ở đây là các dãy núi cao, thung lũng sâu hoặc hẻm núi và các cao nguyên đá vôi có độ cao trung bình. Dãy núi cao nhất và đồ sộ nhất là dãy Hoàng Liên Sơn với nhiều đỉnh cao trên 2500m, đỉnh cao nhất là Phan Xi Păng (3143m).

Vùng núi Đông Bắc chủ yếu gồm núi trung bình và thấp. Khối núi ở thượng nguồn sông Chảy có nhiều đỉnh cao trên và dưới 2000m, thuộc loại cao nhất vùng. Từ khối núi này ra biển là các dãy núi hình cánh cung thấp dần về phía biển. Có 4 cung điện lớn: Song Gâm Palace, Ngân Sơn Palace, Bắc Sơn Palace và Đông Triều Palace.

Chuyển tiếp từ vùng núi Đông Bắc xuống đồng bằng sông Hồng, từ Vĩnh Phú đến Quảng Ninh là những quả đồi có đỉnh tròn, sườn thoai thoải. Đây là vùng trung du điển hình của nước ta, ranh giới rất khó xác định.

3.2. Khí hậu:

Khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng của gió mùa. Chế độ gió mùa có sự tương phản rõ rệt: gió mùa Tây Nam khô nóng, mưa nhiều, gió mùa Đông Bắc khô lạnh, mùa đông ít mưa. Chế độ gió tạo nên thời tiết hơi khắc nghiệt, gây khô nóng, khô hạn, sương muối ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt.

3.3. Tài nguyên thiên nhiên:

Trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng giàu tài nguyên khoáng sản của nước ta. Các khoáng sản chủ yếu là than, sắt, thiếc, chì kẽm, đồng, apatit, pyrit, đá vôi và đất sét làm xi măng, gạch ngói, gạch ngói, gạch chịu lửa… Tuy nhiên, hầu hết các mỏ đã được khai thác. đòi hỏi cơ sở vật chất hiện đại và giá thành cao.

– Than: mỏ Uông Bí, Đèo Nai, Cọc Sáu (Quảng Ninh).

– Đồng – niken: Sơn La.

– Đất hiếm: Lai Châu.

– Sắt: Yên Bái.

– Thiếc, bauxite: Cao Bằng.

– Kẽm – chì: Chợ Đồn (Bắc Kạn).

– Đồng – vàng: Lào Cai.

– Tin: Tĩnh Túc (Cao Bằng), Tuyên Quang.

– Apatit: Lào Cai.

Sắt: Thái Nguyên.

– Phía Đông: Vạn Sài – Suối Chát.

Nước khoáng: Kim Bôi (Hòa Bình), Phong Thổ, Tuần Giáo (Lai Châu), Mường La, Bắc Yên, Phù Yên, Sông Mã (Sơn La).

Vùng than Quảng Ninh là trung tâm than lớn nhất và chất lượng than tốt nhất Đông Nam Á. Hiện sản lượng khai thác đã vượt ngưỡng 30 triệu tấn/năm. Than khai thác chủ yếu làm nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện và xuất khẩu. Trong vùng có các nhà máy nhiệt điện Uông Bí và Uông Bí mở rộng (Quảng Ninh) với tổng công suất 450 MW, Cao Ngạn (Thái Nguyên) 116 MW, Na Dương (Lạng Sơn) 110 MW. Trong quy hoạch, nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả (Quảng Ninh) sẽ được xây dựng với công suất 600 MW.

Xem thêm bài viết hay:  Chiếu là gì? Tác phẩm thể loại chiếu? Đặc điểm của thể loại chiếu?

Tây Bắc có một số mỏ khá lớn như mỏ quặng đồng-niken (Sơn La), đất hiếm (Lai Châu). Đông Bắc có nhiều mỏ kim loại, nổi bật là sắt (Yên Bái), thiếc và bôxit (Cao Bằng), kẽm – chì (Chợ Điền – Bắc Kạn), đồng – vàng (Lào Cai), thiếc ở Túc (Cao). Bằng). Mỗi năm khu vực này sản xuất khoảng 1.000 tấn thiếc.

Khoáng sản phi kim loại đáng kể apatit (Lào Cai). Mỗi năm, hai mỏ khai thác khoảng 600 nghìn tấn quặng để sản xuất phân lân.

3.4. Tài nguyên nước:

Các sông suối có công suất thủy điện khá lớn. Hệ thống sông Hồng (11 triệu kWW) chiếm hơn 1/3 trữ lượng thủy điện của cả nước. Riêng sông Đà cung cấp gần 6 triệu kWW. Nguồn thủy điện lớn này đã được khai thác. Thủy điện Thác Bà trên sông Chảy (110 MW). Nhà máy thủy điện Hòa Bình trên sông Đà (1.920 MW). Hiện nay đang xây dựng thủy điện Sơn La trên sông Đà (2.400 MW), thủy điện Tuyên Quang trên sông Gâm (300 MW). Nhiều nhà máy thủy điện nhỏ đang được xây dựng trên các nhánh sông. Việc phát triển thủy điện sẽ tạo động lực mới cho sự phát triển của vùng, đặc biệt là khai thác và chế biến khoáng sản trên cơ sở nguồn điện giá rẻ và dồi dào. Nhưng với những công trình kỹ thuật lớn như vậy cần phải quan tâm đến những thay đổi rõ rệt của môi trường.

3.5. Tài nguyên đất:

Trung du miền núi Bắc Bộ có diện tích lớn đất feralit trên đá phiến sét, đá vôi và các loại đá mẹ khác, ngoài ra còn có đất phù sa cổ (ở trung du). Đất phù sa được tìm thấy dọc theo các thung lũng sông và các cánh đồng ở các vùng núi như Nghĩa Lộ, Điện Biên, Than Uyên và Trùng Khánh.

4. Cơ sở hạ tầng:

Trung du và miền núi phía Bắc có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, nhưng do cơ sở hạ tầng còn rất hạn chế nên kinh tế nơi đây chưa thực sự phát triển.

Hệ thống đường ô tô gồm các quốc lộ: Quốc lộ 2 dài 312 km chạy từ Hà Nội – Việt Trì – Phú Thọ – Tuyên Quang – Mèo Vạc, đi qua các thành phố công nghiệp và các vùng giàu khoáng, lâm nghiệp và khoáng sản. . Khu chăn nuôi gia súc lớn; Quốc lộ 3 Hà Nội – Thái Nguyên – Bắc Cạn – Cao Bằng – Thụy Khẩu dài 382km nối Khu Kim loại màu mới với Thái Nguyên và Hà Nội; quốc lộ 18 Bắc Ninh – Uông Bí – Đông Triều – Móng Cái đi qua vùng sản xuất than, điện; Quốc lộ 4 từ Mũi Ngọc – Móng Cái – Lạng Sơn – Cao Bằng – Đồng Văn đi qua vùng cây ăn quả, nối sang cửa khẩu Việt Trung….

Xem thêm bài viết hay:  Ca khúc nhạc thiếu nhi vui nhộn cho bé ăn ngon, ăn giỏi ngoan

Hệ thống đường sắt tuyến Hà Nội – Đồng Đăng dài 123km, kết nối với ga Bằng Tường (Trung Quốc). Đây là tuyến đường sắt quan trọng trong việc tạo kết nối qua một số vùng kinh tế – quốc phòng trọng điểm Bắc Giang – Chi Lăng – Lạng Sơn; tuyến Hà Nội – Việt Trì – Yên Bái – Lào Cai…

Đây là động lực để tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

5. Nhân dân Trung du và miền núi phía Bắc:

Với diện tích rất rộng lớn, cùng với tiềm năng kinh tế đang chờ được khám phá, Trung du và miền núi Bắc Bộ là nơi tập trung nhiều thành phần dân cư, trong đó điển hình là: 30 dân tộc anh em cùng chung sống. như: Thái, Mường, Dao, Mông… ở Tây Bắc; Tày, Nùng, Dao, Mông… ở vùng Đông Bắc. Người Kinh cư trú ở hầu hết các địa phương.

Có được sự đa dạng sắc tộc này, trước hết phải là vị trí địa lý. Trung du và miền núi Bắc Bộ có vị trí địa lý rất rộng, tiếp giáp với các nước, trong lịch sử đây là một trong những nơi đầu tiên được con người khai phá. Cùng với đó, trong chiến tranh, con người di cư đến những nơi khó tìm để ẩn náu và bảo vệ cuộc sống của họ. Đây cũng là nơi xây dựng căn cứ địa lớn của nước ta.

Hiện nay nền kinh tế đã bắt đầu phát triển, nhà nước cũng đã chính sách phát triển tăng trưởng kinh tế ở các vùng có tiềm năng lớn, chính sách di dân đảm bảo phát triển cân bằng giữa các vùng được đón nhận tích cực. Vì vậy, việc người dân di cư vào vùng Trung du và miền núi phía Bắc sinh sống là khá phổ biến. Đây là lý do tại sao vùng này đa dạng về thành phần dân tộc, và cũng là lý do tại sao nền văn hóa ở vùng này có nhiều nét đa dạng.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Trung du niền núi Bắc Bộ là địa bàn cư trú của các dân tộc nào? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận