Trưng cầu giám định là gì? Trưng cầu giám định theo Bộ luật tố tụng hình sự?

Trưng cầu giám định là gì? Thẩm quyền quyết định trưng cầu giám định? Những trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định? Nội dung quyết định trưng cầu giám định?

Trong tố tụng hình sự, giám định tư pháp được thực hiện theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người trưng cầu giám định. thu thập, củng cố chứng cứ phục vụ điều tra vụ án hình sự. . Trong bài viết dưới đây, Luật Dương Gia sẽ cung cấp cho bạn đọc những kiến ​​thức pháp luật liên quan đến hoạt động trưng cầu giám định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Cơ sở pháp lý:

– Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017

– Bộ luật tố tụng hình sự 2015

– Luật Giám định tư pháp 2012 sửa đổi 2020

Trung tâm cuộc gọi Luật sư tư vấn pháp luật Trực tuyến 24/7:

1. Trưng cầu giám định là gì?

Trong tố tụng hình sự, giám định được hiểu là việc nghiên cứu chứng cứ, tài liệu, tử thi, tình trạng sức khoẻ, đặc điểm cơ thể của người còn sống có ý nghĩa đối với vụ án, do người có kiến ​​thức chuyên môn thực hiện. Đối tượng được tiến hành theo yêu cầu của cơ quan điều tra bằng quyết định trưng cầu giám định

Trưng cầu giám định là hoạt động điều tra do cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm thu thập, củng cố, xem xét, đánh giá, xác lập chứng cứ phục vụ cho việc điều tra, xử lý vụ án hình sự.

2. Thẩm quyền quyết định trưng cầu giám định:

Việc giám định tư pháp được thực hiện theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc yêu cầu của người trưng cầu giám định.

– Cơ quan tố tụng gồm:

xem thêm: Quy định của pháp luật về quyền trưng cầu giám định

+ Cơ quan điều tra

+ Kiểm sát viên

+ Tòa án

Những người tiến hành tố tụng gồm: Thẩm phán chủ toạ phiên toà, Viện trưởng Viện kiểm sát, người được Bộ đội biên phòng giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hải quan; người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Cục Kiểm lâm; người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Cảnh sát biển; người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Thanh tra Thủy sản…

“Người yêu cầu giám định” là một khái niệm mới được Luật Giám định tư pháp thể chế hóa, theo đó: “Người yêu cầu giám định là người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã yêu cầu cơ quan có thẩm quyền. tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định nhưng không được chấp nhận. Người có quyền tự mình yêu cầu giám định bao gồm đương sự trong vụ án dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người có quyền tự mình yêu cầu giám định. người đại diện hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc trưng cầu giám định có liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo” (Khoản 3 Điều 2 Luật Giám định tư pháp 2012).

Xem thêm bài viết hay:  Thanh tra, kiểm tra thuế là gì? Quy định về thanh tra thuế, kiểm tra thuế?

Điều 207 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về trưng cầu giám định với nội dung cụ thể như sau:

Đương sự hoặc người đại diện của họ có quyền yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền trưng cầu giám định về những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trừ trường hợp việc giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can.

Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trưng cầu, cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét và ra quyết định trưng cầu giám định. Trường hợp không chấp nhận yêu cầu giám định thì phải thông báo bằng văn bản cho người đã yêu cầu giám định và nêu rõ lý do. Khi hết thời hạn này hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối trưng cầu giám định của cơ quan tiến hành tố tụng, người yêu cầu giám định có quyền tự mình trưng cầu giám định.

xem thêm: Kiểm tra chữ viết là gì? Trình tự thủ tục khám chữ viết như thế nào?

Như vậy, BLHS 2015 đã quy định rất mở về chủ thể có quyền trưng cầu giám định. Việc trưng cầu giám định có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác lập, củng cố chứng cứ. Trong nhiều trường hợp, việc trưng cầu giám định có thể làm thay đổi bản chất vụ việc và là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả phá án. Vì vậy, để đảm bảo khách quan, công bằng, xét xử đúng người, đúng tội thì việc trưng cầu giám định không chỉ do cơ quan, người tiến hành tố tụng quyết định mà còn do các đương sự của vụ án hình sự quyết định. cũng có quyền yêu cầu giám định.

3. Các trường hợp phải giám định:

Theo quy định tại Điều 206 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, trường hợp trưng cầu giám định khi cần xác định:

1. Tình trạng tâm thần của bị can khi có nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự; trạng thái tinh thần của người làm chứng, người bị hại khi có nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng các tình tiết của vụ án;

Xem thêm bài viết hay:  Phần mềm quét mã vạch là gì? Phần mềm quét mã vạch tốt nhất?

2. Tuổi của bị can, bị cáo, người bị hại nếu xét thấy có ý nghĩa giải quyết vụ án và không có tài liệu xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của tài liệu. ở đó;

3. Nguyên nhân chết;

4. Tính chất thương tật, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;

5. Ma túy, vũ khí quân dụng, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ;

6. Mức độ ô nhiễm môi trường”.

xem thêm: Trưng cầu giám định là gì? Cơ quan điều tra trưng cầu giám định

Như đã nêu ở trên, việc trưng cầu giám định được thực hiện nếu cơ quan, người tiến hành tố tụng xét thấy cần thiết cho việc điều tra, giải quyết vụ án hoặc theo yêu cầu của đương sự trong vụ án hình sự. các. Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp bắt buộc phải giám định tư pháp như: Cần xác định tình trạng tâm thần của đương sự khi có nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tuổi của bị can, bị cáo…

Để xử lý trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, cơ quan tố tụng cần xác định năng lực trách nhiệm hình sự của người đó. Trường hợp: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong thời gian đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng làm chủ hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự” (Điều 21 BLHS 2015). Vì vậy, việc xác định trạng thái tâm thần của đương sự trong vụ án hình sự là vô cùng quan trọng. Trên thực tế, có nhiều trường hợp bị can, bị cáo của các vụ án hình sự lợi dụng quy định nhân đạo của BLHS 2015 để trốn tránh trách nhiệm hình sự.

Về giám định độ tuổi: Việc xác định độ tuổi của đương sự trong vụ án hình sự là căn cứ quan trọng để giải quyết vụ án hình sự, cụ thể Điều 12 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự:

“thứ nhất. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội tội hiếp dâm. tội mua dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các trường hợp sau…”. Pháp luật hình sự Việt Nam không áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội…

Xem thêm bài viết hay:  Nhà trường được phép thu những khoản phí nào đầu năm học?

Ngoài ra, các trường hợp quy định bắt buộc phải giám định tư pháp liên quan đến vụ án có dấu hiệu tội phạm nghiêm trọng, đặc biệt nguy hiểm cho xã hội như: giám định nguyên nhân chết, giám định nhân thân. tính chất của vết thương, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động; giám định ma túy, vũ khí quân dụng, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, cổ vật; đánh giá ô nhiễm môi trường…

4. Nội dung quyết định trưng cầu giám định:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 205 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì quyết định trưng cầu giám định có nội dung như sau:

“a) Tên cơ quan trưng cầu giám định; họ, tên người có thẩm quyền trưng cầu giám định;

xem thêm: Cơ quan nào chịu trách nhiệm trưng cầu giám định số gỗ bị thiệt hại?

b) Tên tổ chức; họ, tên của người được trưng cầu giám định;

c) Tên, đặc điểm của đối tượng giám định;

d) Tên văn bản liên quan hoặc mẫu so sánh kèm theo (nếu có);

đ) Nội dung trưng cầu giám định;

e) Ngày, tháng, năm trưng cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định.”

Trong thời hạn 24 giờ, kể từ ngày ra quyết định trưng cầu giám định, cơ quan trưng cầu giám định phải giao hoặc gửi quyết định trưng cầu giám định, hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định cho tổ chức, cá nhân thực hiện giám định. thẩm định, lượng định, đánh giá; gửi quyết định trưng cầu giám định cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.

Cá nhân, tổ chức giám định tư pháp bao gồm người giám định tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp công lập, tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập và tổ chức giám định tư nhân. Hồ sơ luật. Việc trưng cầu giám định được thực hiện theo quy định của Luật Giám định tư pháp 2015.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Trưng cầu giám định là gì? Trưng cầu giám định theo Bộ luật tố tụng hình sự? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận