Tổng tư lệnh là gì? Tìm hiểu Bộ Tổng Tư Lệnh QĐND Việt Nam?

Tổng tư lệnh là gì? Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp? Tìm hiểu về Bộ tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam? Tìm hiểu về Bộ tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam? Tổ chức tiền thân của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam? Lịch sử hình thành Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam?

Trong Quân đội nhân dân việt nam, Tổng tư lệnh, Tổng tư lệnh là người giữ chức vụ trong cơ quan quân sự được nhiều người quan tâm. Vậy Tổng tư lệnh là gì? Tìm hiểu về Bộ tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam?

Luật sư Tư vấn luật miễn phí qua tổng đài điện thoại:

1. Tổng tư lệnh là gì?

Tổng tư lệnh thường được dùng để chỉ người giữ chức vụ chỉ huy cao nhất toàn quân, hoặc mở rộng chỉ huy toàn bộ lực lượng vũ trang trên một địa bàn cấp quốc gia hoặc tương đương. Tổng tư lệnh có quyền ra lệnh cho tất cả các lực lượng vũ trang của quốc gia, còn được gọi là Tổng tư lệnh tối cao.

Ở nhiều nước, chức danh tổng tư lệnh là nguyên thủ quốc gia phụ trách (Vua, Hoàng hậu, Tổng thống), một số trường hợp do cơ quan lãnh đạo cao nhất của Chính phủ (Thủ tướng Nhật Bản, Ôxtrâylia …) đảm nhiệm. Tổng thống Hoa Kỳ, theo Hiến pháp Hoa Kỳ 1787, là Tổng tư lệnh của Quân đội và Hải quân Hoa Kỳ.

Ở Việt Nam, từ tháng 11 năm 1946, người chỉ huy cao nhất của các lực lượng vũ trang được gọi là Tổng tư lệnh. Ngày 12 tháng 3 năm 1949, theo Sắc lệnh số 14, chức danh Tổng tư lệnh được đổi thành Tổng tư lệnh và được sử dụng cho đến khi Hiến pháp 1959 được ban hành. Chức vụ Tổng Tư lệnh đầu tiên được giao cho Võ Tướng. Nguyên Giáp từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược. Hiện nay, chức vụ này đã bị bãi bỏ, kể từ Hiến pháp 1959, bộ trưởng quốc phòng là tư lệnh cao nhất của lực lượng vũ trang.

2. Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp?

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, đất nước ta bị kẻ thù trăm phương ngàn kế tàn phá. Ở miền Bắc, cuối tháng 8-1945, gần 200.000 quân của Tưởng Giới Thạch được Mỹ kéo vào nước ta, lấy cớ vào nước ta để giải giáp quân phát xít Nhật, nhưng thực chất là để xâm lược miền Nam nước ta. Ở Nam Bộ, đầu tháng 9-1945, thực dân Anh kéo đến, lấy cớ tước vũ khí của quân Nhật nhưng lại âm mưu giúp thực dân Pháp cướp nước ta. Pháp do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra, khiến 2 triệu người chết đói.

Đảng, Chính phủ, Hồ Chủ tịch và toàn thể nhân dân ta đã thể hiện quyết tâm “Thà hy sinh tất cả còn hơn mất nước” Toàn dân đồng tình hưởng ứng “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” Theo lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, đêm 19/12/1946, quân và dân cả nước đồng loạt nổ súng vào các vị trí của Pháp ở Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Nam Định, Huế, Đà Nẵng. Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Rang, Cần Thơ…

Xem thêm bài viết hay:  Tước danh hiệu công an nhân dân là gì? Các trường hợp tước?

Trong thời gian đó, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp là Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang nhân dân, chưa đầy một năm sau, quân ta đã đánh bại cuộc tiến công chiến lược lớn nhất của quân Pháp vào căn cứ địa Việt Bắc. Chiến lược đập “đánh nhanh, thắng nhanh” của kẻ thù.

Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và Chính phủ ký sắc lệnh phong quân hàm Đại tướng cho Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Việt Nam Võ Nguyên Giáp. Trên cương vị Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp chỉ huy các chiến dịch: Việt Bắc Thu Đông 1947, Chiến dịch Biên giới 1950, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào …. đánh bại 7 tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp, kết thúc cuộc kháng chiến toàn thắng, với Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không – Động đất” 1972, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, rút ​​quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Tháng 9 năm 1955, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, Đại tướng đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tổng Tư lệnh kiêm Bí thư Quân ủy Trung ương cho đến hết hai cuộc kháng chiến chống Pháp. và chống lại người Pháp. Mỹ đã thắng.

xem thêm: Điều kiện, chế độ nghỉ hưu đối với sĩ quan Quân đội nhân dân

Trước các cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Đại tướng đã ghi mệnh lệnh lịch sử: “Nhanh hơn, nhanh hơn / Táo bạo hơn, táo bạo hơn / Tranh thủ từng giờ từng phút xông lên mặt trận, giải phóng miền Nam / Quyết chiến, quyết thắng…”bức thư đã khích lệ tinh thần chiến sĩ, phát huy sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân.

Lịch sử cho chúng ta biết, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ một giáo viên dạy sử trở thành Đại tướng, Tổng tư lệnh, được lịch sử và Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn vì “Văn lộ Văn thành võ / Võ hiểu lòng người, văn võ song toàn”. Ông là vị tướng đầu tiên của quân đội ta, 30 năm làm tổng tư lệnh quân đội và gần 50 năm tham gia tính toán chính trị ở cấp cao nhất, cũng là vị tướng thu phục nhiều tướng nhất. Tài năng kết hợp chiến tranh du kích và chiến tranh chính trị không ai sánh kịp.

Xem thêm bài viết hay:  Xích đạo là gì? Khí hậu các nước xung quanh đường xích đạo?

3. Tìm hiểu về Bộ tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam?

Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam là cơ quan chỉ huy cao nhất của các lực lượng vũ trang của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tồn tại từ năm 1946 đến năm 1976.

Bộ Tổng tư lệnh Lục quân phối hợp với Bộ Quốc phòng. Trong một thời gian, 2 Bộ này đã được hợp nhất thành một:

  • 11/1946 – 7/1947: Bộ Quốc phòng và các Quân ủy viên hợp nhất thành Bộ Tổng tư lệnh Bộ Quốc phòng, sau đó tách ra.
  • Tháng 10 năm 1948 – tháng 3 năm 1949: Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và dân quân Việt Nam hợp nhất thành Bộ Tổng tư lệnh Phòng thủ.
  • 3/1949 – 1976: đổi tên thành Bộ Quốc phòng-Bộ Tư lệnh, từ năm 1976 Bộ Tổng tư lệnh thôi hoạt động, chỉ còn Bộ Quốc phòng.

Ngày 13 tháng 7 năm 1950, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh Quân đội và Dân quân Quốc gia Việt Nam tổ chức lại Bộ Tổng chỉ huy. Bộ Tổng chỉ huy gồm các cơ quan sau:

– Bộ Tổng Tham mưu: Văn phòng, Cục Tác chiến, Cục Quân báo, Cục Thông tin liên lạc, Cục Dân quân, Cục Quân huấn.

– Tổng cục Chính trị: Văn phòng, Cục Tổ chức, Cục Tuyên huấn, Cục Quân pháp, Cục Cần cù, Nhà xuất bản Vệ quốc đoàn.

– Tổng cục cung cấp và trực tiếp giúp Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo tác chiến trên mặt trận quân sự: Văn phòng, Cục Quân lương, Cục Quân y, Cục Quân khí, Cục Vận tải, Cục Quân giới, Cục Quân trang, Cục Vũ khí.

xem thêm: Mức lương mới nhất của quân đội, cảnh sát và cảnh sát vào năm 2022

– Đoàn Thanh tra.

– Văn phòng giúp Tổng Tư lệnh liên lạc với các cơ quan chính quyền và đoàn thể.

Ngoài ra, còn có Cục Pháo binh, Cục Công binh và Quân hiệu (các trường quân sự) do Tổng Tư lệnh ủy quyền chỉ đạo Bộ Tổng Tham mưu.

Từ tháng 11 năm 1960, Bộ Tổng tư lệnh trở lại tên gọi ban đầu là Bộ Quốc phòng, có những thay đổi như thành lập hoặc giải thể, chia tách, sáp nhập một số tổng cục, cục, vụ, viện. và các văn phòng. các trường hoặc các cơ quan, đơn vị trực thuộc khác cho phù hợp với tình hình từng thời kỳ.

4. Tổ chức tiền thân của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam?

Ngày 2/3/1946, Ủy ban kháng chiến toàn quốc hay còn gọi là Ủy ban kháng chiến toàn quốc ra đời. Chủ tịch nước: Võ Nguyên Giáp, Phó Chủ tịch nước: Vũ Hồng Khanh.

Ngày 6/5/1946, đổi tên hội viên quân y theo Sắc lệnh 60-SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gọi tắt là Quân ủy. Các thành viên quân sự của Hội gồm: Tổng cục, Bộ Tổng tham mưu, Cục Chính trị, Bộ Tổng tư lệnh Bộ Quốc phòng (phụ trách tiếp quản thay thế Tưởng Giới Thạch rút quân), Ban liên lạc và kiểm soát. Quân đội Việt Nam và Pháp.

Xem thêm bài viết hay:  CTO là gì? Mô tả công việc, điều kiện làm Giám đốc công nghệ?

Từ ngày 28 tháng 10 đến ngày 9 tháng 11 năm 1946, Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 2 quyết định hợp nhất Bộ Quốc phòng với các Hội Quân nhân thành Bộ Quốc phòng – Bộ Tổng tư lệnh do Võ Nguyên Giáp làm Bộ Quốc phòng. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Theo Sắc lệnh số 230-SL ngày 30/11/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc gia.

5. Lịch sử hình thành Bộ Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam?

Theo Sắc lệnh 47 / SL của Chủ tịch nước, Bộ Tổng chỉ huy gồm Bộ Tổng tham mưu (thành lập ngày 7-9-1945), Cục Chính trị (thành lập tháng 9-1945), Cục Tình báo (thành lập ngày 7-9-1945). Ngày 9 tháng 9 năm 1947), tháng 3 năm 1947, đổi tên thành Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân Tự vệ, Văn phòng, Cục Quân huấn (thành lập ngày 25 tháng 3 năm 1946), Cục Thanh tra. , Cục Dân quân (thành lập tháng 1-1948, từ Cục Dân quân thành lập ngày 12-2-1947).

xem thêm: Army là gì? Quân đội nhân dân Việt Nam có chức năng, nhiệm vụ gì?

Theo Sắc lệnh 165 / SL ngày 14 tháng 4 năm 1948, Bộ Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân tự vệ đổi tên thành Bộ Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân Việt Nam.

Theo Sắc lệnh 14 / SL ngày 12 tháng 3 năm 1949, Bộ Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và dân quân Việt Nam đổi tên thành Bộ Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân Việt Nam.

Theo Sắc lệnh 121 / SL tháng 7-1950, Bộ Tổng chỉ huy gồm Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp, Đội Thanh tra và Cục.

Tháng 9 năm 1954, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc gia và Dân quân Việt Nam đổi tên thành Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong thời gian này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp liên tục và duy nhất đứng đầu Bộ Tổng chỉ huy, ban đầu được gọi là Tổng tư lệnh. Đến năm 1976, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam thôi hoạt động.

Hiện nay, Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm quản lý, điều động Quân đội nhân dân Việt Nam và Dân quân tự vệ Việt Nam.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Tổng tư lệnh là gì? Tìm hiểu Bộ Tổng Tư Lệnh QĐND Việt Nam? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận