Tạm giam là gì? Thời hạn tạm giam để điều tra vụ án hình sự?

Giam giữ là gì? Thời hạn tạm giam để điều tra vụ án hình sự? Thời hạn gia hạn tạm giam theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015?

Tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn người phạm tội rời khỏi xã hội trong một thời hạn nhất định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra tội phạm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. nhanh hơn nữa. Việc tạm giam bị can, bị cáo còn nhằm đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử, tránh trường hợp người phạm tội có dấu hiệu bỏ trốn, là một trong những biện pháp cưỡng chế nghiêm minh. , ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do thân thể của công dân.

Theo giải thích tại Khoản 2 Điều 3 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam có quy định về giải thích người bị tạm giữ như sau:Người bị tạm giữ là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giam, thời hạn tạm giam được gia hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, kể cả bị can; bị buộc tội; người bị kết án phạt tù, người bị kết án tử hình mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đang chờ thi hành án; người bị giam giữ vì mục đích dẫn độ.”

Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra phải tiến hành một số hoạt động tố tụng cần thiết như tạm giữ người để điều tra. Vậy pháp luật nói gì về tạm giam để điều tra? Thời hạn tạm giam và gia hạn tạm giam là gì?

1. Tạm giam là gì?

Tạm giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong tố tụng hình sự. Các biện pháp khác như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh, đặt cọc tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm chỉ ảnh hưởng đến quyền tự do đi lại hoặc quyền, lợi ích về tài sản mà không ảnh hưởng đến các quyền tự do khác của công dân như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do thông tin, quyền hội họp. Biện pháp bắt, tạm giam cũng mang tính răn đe nghiêm khắc, cũng hạn chế quyền tự do của công dân, nhưng thời hạn tự do trong bắt, tạm giam ngắn hơn nhiều so với tạm giam. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi bắt hoặc nhận người bị bắt hoặc nhận người bị bắt trong trường hợp bắt khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang.

Thực tiễn cho thấy tạm giam là biện pháp nghiêm khắc nhất trong tố tụng hình sự. Vì vậy, việc áp dụng biện pháp này phải có căn cứ xác đáng, rõ ràng, không được lạm dụng hoặc áp dụng tùy tiện. Bộ luật tố tụng hình sự những năm qua cũng quy định rõ các trường hợp tạm giữ nhằm ngăn chặn tội phạm tiếp tục thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây tổn hại, mất an ninh, trật tự. an sinh xã hội cho xã hội.

Xem thêm bài viết hay:  Nhân nghĩa là gì? Tìm hiểu tư tưởng nhân nghĩa trong Nho giáo?

Tuy nhiên, vẫn có trường hợp pháp luật hạn chế áp dụng biện pháp tạm giam đối với các đối tượng như: Bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, người già, người cao tuổi. nếu bị bệnh nặng nhưng có nơi cư trú, lai lịch rõ ràng thì không tạm giữ mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Việc nhà lập pháp quy định như vậy là vừa hợp tình, vừa hợp lý bởi đây là những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt, có những diễn biến tâm – sinh lý không giống với những người khỏe mạnh bình thường.

2. Thời hạn tạm giam để điều tra vụ án hình sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thời hạn tạm giữ để điều tra như sau:

“thứ nhất. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”

Như vậy, thời hạn tạm giam đối với bị can sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào hành vi, tính chất nguy hiểm cho xã hội của bản thân bị can. Thời gian tạm giam sẽ khác nhau tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bị cáo.

3. Thời hạn gia hạn tạm giam:

Cơ quan điều tra chỉ có thể gia hạn tạm giam đối với vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét thấy cần thời gian điều tra dài hơn và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam. Chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn thời hạn tạm giam.

xem thêm: Quy định về bắt bị can, bị cáo để tạm giam mới nhất 2022

Như vậy, luật không nói rõ trường hợp cụ thể nào cần gia hạn thời hạn tạm giam để điều tra mà chỉ nói ngắn gọn rằng xuất phát từ tính chất phức tạp của vụ án mà cơ quan điều tra phải giải quyết. có nghĩa vụ đề nghị Viện kiểm sát gia hạn thời hạn tạm giam để điều tra.

Xem thêm bài viết hay:  Hàng nhái là gì? Những tác hại của hàng giả, hàng nhái?

Căn cứ khoản 2 Điều 173 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thời hạn gia hạn tạm giam như sau:

“2. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét thấy cần thời gian điều tra dài hơn và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam. tạm giam thì Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn thời hạn tạm giam.

Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần nhưng không quá 01 tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 02 tháng;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng;

đ) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng.”

xem thêm: Chế độ thăm gặp, chăm sóc người bị tạm giữ, người bị tạm giam

Như vậy, việc gia hạn tạm giam đối với mỗi tội phạm sẽ có thời hạn tạm giam khác nhau. Thời hạn gia hạn tạm giam tùy thuộc vào tính chất, hành vi nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm. Việc gia hạn thời hạn tạm giam sẽ thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân.

+) Viện kiểm sát nhân dân huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực có thẩm quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng. Trường hợp vụ án được Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền gia hạn thời hạn tạm giữ người phạm tội. tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và gia hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

a) Trường hợp đã hết thời hạn gia hạn tạm giam lần đầu quy định tại điểm a khoản này mà không thể kết thúc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện kiểm sát nhân dân, quân sự cấp tỉnh Viện kiểm sát quân sự cấp khu có quyền gia hạn tạm giam lần thứ hai đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

+) Trường hợp vụ án đang được Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiến hành điều tra thì việc gia hạn tạm giam thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra. viện kiểm sát. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.

Xem thêm bài viết hay:  Đền thờ Chầu Đệ Tam ở đâu? Sắm lễ, văn khấn đền Thác Hàn?

+) Trường hợp cần thiết đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn một lần thời hạn không quá 04 tháng. Trường hợp đã hết thời hạn gia hạn tạm giam quy định tại khoản này mà không thể kết thúc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần nữa. nhưng không quá 01 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp đặc biệt đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia mà không có căn cứ hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định tạm giam cho đến khi hết thời hạn tạm giam. cuộc điều tra.

+) Trường hợp cần thiết đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần nhưng không được quá 04 tháng; Trường hợp đặc biệt không có căn cứ để huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định tạm giam cho đến khi kết thúc điều tra.

+) Trong thời hạn tạm giữ, nếu xét thấy không cần thiết tiếp tục tạm giam thì Cơ quan điều tra phải kịp thời đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ việc tạm giữ để trả tự do cho người bị tạm giữ hoặc xét thấy cần thiết. Nếu cần thiết, áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác.

Khi thời hạn tạm giữ đã hết thì người bị tạm giữ phải được trả tự do. Khi xét thấy cần thiết, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác.

xem thêm: Ai có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam?

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Tạm giam là gì? Thời hạn tạm giam để điều tra vụ án hình sự? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận