Phân tích khổ 4 (đoạn 4) bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay

“Người lính” là đề tài muôn thuở trong nhiều tác phẩm văn học Việt Nam. Có thể nói “Tây Tiến” của Quang Dũng là tác phẩm tiên phong với phong cách trữ tình lãng mạn viết về đề tài này trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Hy vọng một số gợi ý dưới đây sẽ giúp bạn hiểu hơn về công việc này.

1. Phân tích dàn ý khổ thơ 4 (đoạn 4) bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:

1.1. Khai mạc:

Vài nét về tác giả, tác phẩm: Quang Dũng là nhà thơ tiêu biểu trong thời kỳ văn học đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Tác phẩm đặc sắc và ấn tượng nhất của ông là bài thơ Tây Tiến viết năm 1948, khắc họa thành công cảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở và hình ảnh đoàn quân Tây Tiến gian khổ chiến đấu vì lý tưởng. cao và đẹp.

Tóm tắt nội dung chính của khổ thơ cuối (khổ thơ 4) của bài thơ và trích dẫn bài thơ: gói gọn cảm xúc bao trùm toàn bài thơ là nỗi nhớ và lời thề gắn bó với Tây Tiến và miền Tây Bắc.

1.2. Thân bài:

Vài nét về thành phần và đoàn quân Tây Tiến:

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Quang Dũng nhập ngũ. Năm 1947, ông gia nhập đoàn quân Tây Tiến với cương vị đại đội trưởng.

Tây Tiến là đơn vị quân đội được thành lập năm 1947 với nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào, hoạt động khắp vùng núi Tây Bắc từ Châu Mai, Châu Mộc đến Sầm Nưa về phía Tây. Thanh Hóa. Những người lính trong đoàn quân Tây Tiến năm ấy chủ yếu là học sinh, trí thức xuất thân từ những mái trường, từ phố phường Hà Nội.

Cuối năm 1948 Quang Dũng rời đoàn quân Tây Tiến, trong lúc dự đại hội ở Phù Lưu Chanh, tác giả nhớ lại những kỉ niệm thời kháng chiến cùng đồng đội ở đơn vị cũ, và viết bài thơ “Nỗi nhớ Tây Tiến”. Sau này bài thơ được đổi tên là Tây Tiến.

Phân tích khổ thơ 4 (khổ thơ cuối) của bài thơ:

Ở hai câu thơ đầu, nhà thơ Quang Dũng đã thể hiện lòng quyết tâm, lí tưởng chiến đấu cao cả và phẩm chất anh hùng của những người lính trong đoàn binh Tây Tiến.

– “Người ra đi không lời hứa”: ra trận không một lời trở về không một lời. Đó chính là tinh thần xung phong, dũng cảm, xả thân chiến đấu vì nước “Ra trận không tiếc một đời xanh” => Lí tưởng cứu nước, tinh thần hi sinh đó thật cao đẹp, thiêng liêng.

– “Đường lên thăm thẳm, một phôi pha”: Từng bước hành quân lên cao, đèo dốc, bản làng mờ sương lùi dần => Hoàn cảnh chiến đấu gay gắt, thiếu thốn, gian khổ nên hành trình chiến đấu là một chuỗi hy sinh thì càng khó mong được trở về. Trong chặng đường đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, hoàn cảnh khó khăn, căng thẳng, điều kiện sống còn khó khăn, Bộ đội Cụ Hồ đã ra trận với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

– Việc sử dụng các từ “không hứa hẹn”, “một phôi” với giọng nhẹ nhàng, khoan thai => câu thơ nói về sự hi sinh thật lãng mạn, không gieo vào lòng người đọc sự bi quan mà là sự lạc quan, hi vọng.

Hai câu thơ cuối: lời thề son sắt của người lính, tâm hồn và tình cảm của họ luôn gắn bó với con người và thiên nhiên Tây Bắc:

Xem thêm bài viết hay:  Suy nghĩ về mối quan hệ giữa học và hành chọn lọc hay nhất

– “Mùa xuân ấy” là mùa xuân năm 1947 khi đoàn binh Tây Tiến thành lập, cũng có thể là mùa xuân tươi sáng của đất nước khi đất nước được hòa bình => Thời khắc lịch sử gian khổ, khó khăn nhưng lãng mạn hào hùng. Nỗi nhớ đồng đội, kỉ niệm chiến đấu từ mùa xuân ấy tràn về.

– “Hồn Sầm Nưa một đi không trở lại” lời thề máu thịt với đoàn quân Tây Tiến và trời Tây. Những người lính dù có hy sinh nhưng vẫn mang trong mình một ước nguyện cao đẹp, hòa cùng khí thiêng sông núi để mãi mãi bảo vệ non sông đất nước.

– Tiết tấu chậm rãi, giọng điệu trữ tình nhưng vẫn toát lên vẻ hào hùng.

1.3. Kết thúc:

Khái quát đặc điểm nghệ thuật và nội dung của bài thơ.

Đoạn thơ sử dụng bút pháp lãng mạn để nhấn mạnh tinh thần hi sinh, lí tưởng cao đẹp và tình đồng chí của người lính Tây Tiến và của cả Quang Dũng.

2. Bài văn phân tích khổ thơ 4 (đoạn 4) bài thơ chọn lọc Tây Tiến của Quang Dũng:

Nhắc đến thơ ca trong kháng chiến chúng ta không thể không nhắc đến các nhà thơ như Tố Hữu, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Thi,… và có lẽ chúng ta không thể không nhắc đến nhà thơ Quang Dũng. Ông là nhà thơ tiêu biểu của văn học thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp. Tác phẩm đặc sắc và ấn tượng nhất của ông là bài thơ Tây Tiến, viết năm 1948. Bài thơ đã làm nổi bật một hồn thơ lãng mạn, sâu sắc, thấm đượm tình cảm và tinh thần dân tộc của Quang Dũng, đặc biệt là Quang Dũng. Đặc biệt, khổ thơ cuối gói gọn cảm xúc bao trùm toàn bài thơ là nỗi nhớ nhung và lời thề son sắt gắn bó với Tây Tiến và vùng đất Tây Bắc.

“Người miền Tây đi không hẹn trước
Đường xuống vực thẳm phôi pha
Ai đã về Tây Tiến mùa xuân ấy?
Hồn Sầm Nưa không về”.

Tây Tiến là tên một đội quân với đa số là học sinh Hà Thành, được thành lập đầu năm 1947. Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến với tư cách là một đại đội trưởng. Binh đoàn có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt Lào, hoạt động khắp vùng núi Tây Bắc từ Châu Mai, Châu Mộc đến Sầm Nưa đến miền Tây Thanh Hóa. Cuối năm 1948 Quang Dũng rời đoàn quân Tây Tiến, trong lúc dự đại hội ở Phù Lưu Chanh, tác giả nhớ lại những kỉ niệm thời kháng chiến cùng đồng đội ở đơn vị cũ, và viết bài thơ “Nỗi nhớ Tây Tiến”. Sau này bài thơ được đổi tên là Tây Tiến. Khổ thơ cuối thể hiện tấm lòng tha thiết của nhà thơ đối với Tây Tiến.

Ở hai câu thơ đầu, nhà thơ Quang Dũng đã thể hiện lòng quyết tâm, lí tưởng chiến đấu cao cả và phẩm chất anh hùng của những người lính trong đoàn binh Tây Tiến. “Người ra đi không hẹn ước”, người lính Tây Tiến ra trận không lời và về không lời. Đó là tinh thần tự nguyện, dũng cảm, xả thân chiến đấu vì nước. Lí tưởng cứu nước, tinh thần xả thân ấy thật cao đẹp, thiêng liêng. “Đường lên đỉnh thăm thẳm”, ý thơ khiến ta mường tượng ra từng bước hành quân lên dốc, đèo dốc và những bản làng mờ sương lùi dần vào phía sau. Do hoàn cảnh chiến đấu khắc nghiệt, thiếu thốn, gian khổ, hành trình chiến đấu là chuỗi hy sinh, hy vọng ngày trở về càng khó. Trong chặng đường đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, hoàn cảnh khó khăn, căng thẳng, điều kiện sống còn khó khăn, Bộ đội Cụ Hồ đã ra trận với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Việc sử dụng các từ “không hứa hẹn”, “một phôi thai” với giọng thơ nhẹ nhàng, khoan thai giúp câu thơ nói về sự hi sinh không gieo vào lòng người đọc sự bi quan mà là sự lạc quan, hy vọng, đậm chất lãng mạn.

Xem thêm bài viết hay:  17 mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc (SDG)

Cho đến hai câu thơ cuối là lời thề sắt son của những người lính, tâm hồn và tình cảm của họ luôn gắn bó với con người và thiên nhiên Tây Bắc. “Mùa xuân” được nhắc đến ở đây có thể là mùa xuân năm 1947 khi đoàn quân Tây Tiến được thành lập, thời điểm mà lịch sử đã khóa chặt với những gian khổ mà hào hùng, cũng có thể là mùa xuân rực rỡ của đất trời. nước trong hòa bình. Nhớ mùa xuân là nhớ đồng đội, nhớ những kỷ niệm cùng đồng đội chia ngọt sẻ bùi, vượt qua khó khăn, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, nhớ thiên nhiên núi rừng và con người Tây Bắc gần gũi, thân thương. “Hồn Sầm Nưa một đi không trở lại” lời thề máu thịt với đoàn binh Tây Tiến, với Tây Tiến. Nhà thơ dành hết tâm huyết cho Tây Tiến, Sầm Nưa. “Không” là cách nói dứt khoát, dường như với Quang Dũng, ai đã từng có một thời Tây Tiến thì dù đi đến đâu, đến chân trời nào, tâm hồn vẫn gửi về nơi ấy, vẫn quyện vào từng ngọn núi. , từng làng. làng quê thấp thoáng trong mưa xa. Những người lính dù có hy sinh nhưng vẫn mang trong mình một ước nguyện cao đẹp, hòa cùng khí thiêng sông núi để mãi mãi bảo vệ non sông đất nước. Nhịp thơ chậm rãi, giọng điệu trữ tình nhưng vẫn toát lên vẻ hào hùng.

Rõ ràng, khổ thơ cuối đã diễn tả rất súc tích tình cảm nhớ nhung của người lính Tây Tiến đối với mảnh đất mà họ đã đi qua, đã sống và đã chiến đấu vì lý tưởng cao cả, vì tình đồng chí. của người lính Tây Tiến và cũng là của Quang Dũng. Tôi thầm cảm ơn những anh hùng này đã chiến đấu dũng cảm và mang lại cho đất nước nền độc lập như ngày hôm nay. Bút pháp lãng mạn mang đậm phong cách thơ Quang Dũng, mang lại nhiều giá trị cho tác phẩm, khiến Tây Tiến xứng đáng là một trong những bài thơ trữ tình hay nhất của thời kì kháng chiến.

3. Bài văn phân tích khổ thơ thứ 4 (đoạn 4) bài thơ hay nhất Tây Tiến của Quang Dũng:

Cuộc kháng chiến chống Pháp đi qua đã ăn sâu vào tiềm thức của các thế hệ người Việt Nam tinh thần yêu nước, sự chiến đấu và hy sinh cao cả, ý chí kiên cường, bất khuất vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ. và thiếu. Cuộc kháng chiến đã làm nảy sinh biết bao hình ảnh đẹp, trong đó đẹp nhất là hình ảnh người lính. Đặc biệt, Đoàn quân Tây Tiến tập hợp một lực lượng đông đảo gồm đủ mọi tầng lớp thanh niên từ khắp các nẻo đường Hà Nội. Tất cả những người này ra đi đều mang lý tưởng chung của dân tộc là chiến đấu bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Cũng như những người thanh niên Hà Nội thuở ấy, Quang Dũng, chàng thư sinh hào hoa, lịch lãm, lãng tử đã rời bỏ trang sách nhà trường, cầm vũ khí lên đường chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Rồi khi chuyển đơn vị, nhà thơ nhớ lại quãng thời gian khó khăn nhưng ngoan cường, bất khuất ấy và viết bài thơ “Tây Tiến”. Và đặc biệt ở khổ thơ là cảm xúc bao trùm cả bài thơ. Đó chính là nỗi nhớ và lời hẹn ước gắn bó sâu nặng với Tây Tiến và Tây Bắc:

Xem thêm bài viết hay:  Thương lượng tập thể là gì? Đặc điểm, vai trò và quy trình thương lượng tập thể?

“Người miền Tây đi không hẹn trước
Đường xuống vực thẳm phôi pha
Ai đã về Tây Tiến mùa xuân ấy?
Hồn Sầm Nưa không về”.

Trong hai dòng đầu của bài thơ, cụm từ “người ra đi không hẹn ước” một lần nữa khẳng định lại ý chí bất khuất ra đi một đi không trở lại. Ra đi không hẹn ngày trở lại, ra đi là quyết tâm đến đích. Người lính gác lại mọi chuyện riêng tư, hết lòng chiến đấu vì nhiệm vụ cứu nước, cứu nước. Tinh thần “một đi không trở lại” đã thấm nhuần trong tư tưởng, tình cảm của cả đoàn quân Tây Tiến. Đó cũng là ý chí quyết tâm của cả một thế hệ, của một thời đại. “Đường về thăm thẳm chia phôi” gợi lên cả một chặng đường gian khổ của đoàn quân Tây Tiến. Do hoàn cảnh chiến đấu khắc nghiệt, thiếu thốn, gian khổ, hành trình chiến đấu là chuỗi hy sinh, hy vọng ngày trở về càng khó. Trong chặng đường đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, hoàn cảnh khó khăn, căng thẳng, điều kiện sống còn khó khăn, Bộ đội Cụ Hồ đã ra trận với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Việc sử dụng các từ “không hứa hẹn”, “một phôi thai” với giọng thơ nhẹ nhàng, khoan thai giúp câu thơ nói về sự hi sinh không gieo vào lòng người đọc sự bi quan mà mang tính chất lạc quan, hi vọng, lãng mạn.

Tây Tiến mùa xuân ấy đã trở thành điểm hẹn của bao trái tim khao khát luôn muốn trở về. Mùa xuân ấy, khi “tiếng kèn kháng chiến vang dậy sông núi” (Hồ Chí Minh), đoàn quân Tây Tiến hành quân, hay cũng có thể là mùa xuân tươi sáng của đất nước khi hòa bình. Về với núi rừng Tây Bắc, về với nơi có những người bạn, người đồng đội thân yêu, những người “Hồn Sầm Nưa không về”. Những gian khổ, hy sinh trong cuộc kháng chiến là những kỷ niệm không thể nào quên. Sẽ không bao giờ có một thời gian khó khăn và anh hùng như vậy. Nhưng quê hương vẫn mãi ôm ấp hình bóng anh – người lính trong đoàn binh Tây Tiến. Âm hưởng bốn dòng cuối bài thơ làm cho hơi thơ cứ vang mãi không dứt, hòa với con đường của người chiến sĩ tình nguyện lên đường vì Tổ quốc. Giọng hơi buồn xen lẫn chút buồn nhưng chủ đạo vẫn là giọng hào hùng đầy khí phách.

Bài thơ kết thúc nhưng những dư âm cảm xúc ấy vẫn còn vang mãi trong tâm hồn mỗi chúng ta. Qua bài thơ, ta cảm nhận được nỗi nhớ thiết tha, sự lưu luyến sâu nặng của nhà thơ Quang Dũng về những ngày chiến đấu cùng đoàn quân Tây Tiến nơi núi rừng Tây Đô hùng vĩ, thơ mộng – một thời mãi mãi nâng niu. nhớ và tự hào.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Phân tích khổ 4 (đoạn 4) bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận