Phân tích khổ 3 Tràng Giang của Huy Cận chọn lọc siêu hay

Phân tích khổ thơ cuối trong bài Tràng Giang của tác giả Huy Cận để thấy tâm trạng buồn bã, cô đơn, bơ vơ của tác giả khi nhớ nhà. Dưới đây là dàn ý và bài văn mẫu phân tích khổ thơ thứ 3 hay được chọn lọc giúp các em học sinh hiểu rõ hơn về tác phẩm này.

1. Phân tích dàn ý chi tiết khổ thơ 3 Tràng Giang của Huy Cận:

1.1. Khai mạc:

Giới thiệu về tác giả Huy Cận và bài thơ Tràng Giang và nội dung nổi bật của khổ thơ thứ ba của bài thơ.

1.2. Thân bài:

* Câu 1: “Đi đâu, nối tiếp hàng”: Cảnh vắng vẻ, vắng lặng của cảnh sông và tâm trạng nặng trĩu, u uất của con người:

– “Bèo”:

  • Hình ảnh thực trên sông gợi sự nhỏ bé, lênh đênh, lênh đênh.
  • nghĩa ẩn dụ: Nhà thơ đang sống trong cảnh mất nước, nô lệ nên cảm thấy cả thế hệ thanh niên lúc bấy giờ như đang vùng vẫy, lênh đênh, trôi dạt, bị dòng đời cuốn đi. Không biết đi đâu?

– “hàng nối tiếp hàng”: Không gian sông nước bao la, vô tận

* Ba câu thơ sau: tâm trạng lẻ loi, lẻ loi giữa một cõi đời và nỗi nhớ quê hương da diết của nhà thơ:

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không yêu cầu bất kỳ sự thân mật

Lặng lẽ bờ xanh gặp bãi vàng.

– Hình ảnh “con thuyền”, “chiếc cầu” là biểu tượng cho sự liên kết, kết nối của con người với cuộc sống thường gợi nhớ về cuộc sống tất bật, gần gũi và gợi nhớ về quê hương.

– Cấu trúc “no…no” phủ định hoàn toàn sự liên kết, liên kết giữa con người với thế giới xung quanh.

– “Bờ xanh gặp bãi vàng”: Không cầu, không đò ngang, không bờ xanh, bãi vàng hiu quạnh. Sự im lặng tuyệt đối của dòng sông. Thiên nhiên tĩnh lặng với những gam màu bàng bạc giản dị, đẹp nhưng buồn, vắng bóng sự sống của con người.

=> Nỗi buồn con người, sự cô đơn bao trùm nhân vật trữ tình, muốn tìm một chút hơi ấm tình người nhưng chỉ nhận được sự thất vọng, cô đơn.

1.3. Kết thúc:

Đánh giá chung về khổ thơ

2. Tiểu luận PPhân tích khổ thơ 3 Tràng Giang của Huy Cận:

Phong trào Thơ mới đã ghi dấu tên tuổi của nhiều nhà thơ, trong đó có Huy Cận – một hồn thơ “sầu muộn”. Bài thơ Tràng giang là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ ấy. Bài thơ “Tràng Giang” đã bộc lộ nỗi niềm của cái “tôi” cô đơn, nhỏ bé trước thiên nhiên rộng lớn, bao la mà ở đó thấm đượm tình người, tình đời và lòng yêu nước thầm kín nhưng nồng nàn. Đặc biệt, khổ thơ thứ ba là nỗi buồn cảnh vật gắn liền với nỗi sầu nhân thế, khắc khoải để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc:

Xem thêm bài viết hay:  Quan Nam Tào Bắc Đẩu là ai? Sự tích Quan Nam Tào Bắc Đẩu?

Em trôi về đâu, nối tiếp hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không yêu cầu bất kỳ sự thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh gặp bãi vàng

Ngay câu thơ đầu đã gợi lên khung cảnh hiu quạnh, vắng lặng của cảnh sông nước và tâm trạng nặng trĩu, u uất của con người. Hình ảnh cây bèo rất quen thuộc và xuất hiện nhiều lần trong thơ ca truyền thống. Nó vừa mang ý nghĩa tả thực về sự vật nhỏ bé, lênh đênh, lênh đênh vừa mang ý nghĩa ẩn dụ đối với thi nhân, hay rộng hơn là những người thanh niên yêu nước lúc bấy giờ. Nhà thơ đang sống trong cảnh mất nước, nô lệ nên cảm thấy cả thế hệ thanh niên lúc bấy giờ cũng như chính mình đang vùng vẫy, lênh đênh, trôi dạt, bị dòng đời cuốn đi không biết đi về đâu? Mặt khác, ở đây lá bồ công anh cũng diễn tả một cách thấm thía sự hợp ly và chia ly của kiếp người. “hàng nối tiếp hàng” cảnh sông hiện ra mênh mông, vô tận. Đặt những vật nhỏ bé trong một không gian bao la, rộng lớn với câu hỏi tu từ “em đi đâu” càng nhấn mạnh sự bồng bềnh, cô đơn. Đằng sau bức tranh ấy là tâm trạng u uất, u uất của nhà thơ. Đến ba câu thơ sau, nhà thơ phóng tầm mắt ra hai bên bờ sông. Hình ảnh “con đò”, “chiếc cầu” là biểu tượng cho sự liên kết, kết nối của con người và cuộc sống đời thường gợi nhớ cuộc sống tấp nập, gần gũi và gợi nhớ quê hương. Vậy mà tác giả nhắc đến những cái đó không phải để khẳng định cái có mà để miêu tả cái không có, không có trong bức tranh sông nước. Cấu trúc “no…no” phủ nhận nó hoàn toàn. mối liên hệ giữa con người với thế giới xung quanh. Đó là một không gian hoang vắng, hiu quạnh. Con người trong không gian đó”Không yêu cầu bất kỳ sự thân mật nào. cô độc hoàn toàn. Trong khoảng lặng ấy, không gian tiếp tục trải ra đến vô tận của bờ xanh bãi vàng. Bức tranh hiện lên với những gam màu không đậm mà chỉ toàn là những gam màu bàng bạc đơn điệu, không thể làm cho cảnh sáng sủa, rực rỡ hơn. Cảnh có đó nhưng rời rạc. Nỗi buồn con người, sự cô đơn bao trùm lấy nhân vật trữ tình, khát khao tìm lại chút hơi ấm tình người nhưng chỉ nhận được sự thất vọng, cô đơn.

Như vậy, khổ thơ đã vẽ lên trước mắt người đọc một bức tranh thiên nhiên đẹp nhưng buồn trước giác quan của tác giả Huy Cận. Từ những hình ảnh thơ giản dị nhưng giàu sức gợi, kết hợp với các phép tu từ nhân hóa, ẩn dụ, “tả cảnh ngụ tình” khiến Tràng Giang mang phong cách thơ vừa cổ điển vừa hiện đại. đánh dấu tên tuổi tác giả trong Phong trào thơ mới.

Xem thêm bài viết hay:  Tổng hợp các bài hát về chủ đề gia đình hay, ý nghĩa, cảm động

3. Tiểu luận pPhân tích khổ thơ 3 Tràng Giang của Huy Cận:

Khác với tiếng thơ sôi nổi, nhiệt tình gắn liền với công cuộc đổi mới sau Cách mạng tháng Tám, thơ Huy Cận những năm trước Cách mạng mang nỗi u uất, buồn bã đi trước thời đại. Chẳng trách mà “Trường Giang” ra đời khắc họa nét cô đơn, nhỏ bé, bơ vơ của kiếp người trước không gian thiên nhiên choáng ngợp của “trời rộng sông dài”. Và điều đó đã được Huy Cận thể hiện thành công ở khổ thơ thứ ba.

Em trôi về đâu, nối tiếp hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không yêu cầu bất kỳ sự thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh gặp bãi vàng

Ngay từ nhan đề bài thơ “Tràng Giang”, Huy Cận đã khéo léo khắc họa trước mắt người đọc một hình ảnh vừa cổ điển, vừa hiện đại. Cụm từ Hán Việt này gợi không khí cổ kính uy nghiêm. Thay vì “long giang” dễ gợi nhớ đến dòng sông của Trung Quốc, “Tràng Giang” liên tiếp hai âm “ang” gợi cho người đọc cảm giác về dòng sông không chỉ trải dài mà còn rộng lớn. không gian bao la, vô tận.

Ở khổ thơ thứ ba, mỗi câu thơ là những cảm xúc của tác giả. Cảnh sông nước bao la, rộng lớn được thu lại bằng hình ảnh: “Đâu là hàng nối tiếp hàng bè nước”. “Bèo” là hình ảnh quen thuộc trong văn học tuồng, ngoài ý nghĩa tả thực về những điều nhỏ bé, tầm thường, nó còn ám chỉ số phận, cho kiếp người trôi nổi trôi, mặc cho những dòng đời xô đẩy. Hình ảnh “con trôi về đâu” là câu hỏi, là nỗi đau, sự bất lực của tác giả trước số phận nô lệ, cảnh nước mất nhà tan. Hình ảnh những cánh bèo nối đuôi nhau chầm chậm, lặng lẽ trôi trên sông “nối tiếp hàng” gợi cảm giác trải dài vô tận, hướng người đọc vào tầm mắt tối đa. Tả cảnh nhưng ta cảm nhận được nỗi sầu, tương lai dường như mịt mờ, bấp bênh, mất phương hướng không biết đi đâu, về đâu của tác giả hay của cả thế hệ thanh niên đang yêu. nước.

Sang hai câu thơ tiếp theo, cảnh thiên nhiên hiện ra hoang sơ, hấp dẫn, hiu quạnh và thiếu sức sống hơn:

“Mênh mông không một con đò qua

Không yêu cầu bất kỳ sự thân mật nào.

Chiếc cầu và con đò nối đôi bờ là phương tiện, biểu hiện của sự sống, sự tồn tại, sự kết nối của con người với cuộc đời, thường gợi lên nhịp sống tất bật, gần gũi. Tuy nhiên, cả hai hình ảnh này ở đây đều xuất hiện ở thể phủ định “không thuyền… không cầu…”, khiến khung cảnh ấy thật trống vắng, thật hấp dẫn và thật hiu quạnh. Giữa bóng tối ấy, người lữ khách muốn tìm một con đò, một dấu hiệu của sự sống, nhưng anh chỉ nhận được một “không qua”, “không cầu”, vắng lặng, không tổ chức, không một ai. người có thể dẫn đường, kéo trí thức tiểu tư sản như Huy Cận ra khỏi sự hoang mang, bấp bênh. Dường như hai bờ sông chạy dài vô tận, không có điểm dừng, như hai thế giới cô đơn, không có một chút “mật thiết” của sự gắn kết, hòa hợp của con người. Thực tế ấy khiến người ta chạnh lòng cho một đất nước, một dân tộc và cả những con người lạc lõng, bơ vơ “Không đòi một chút tri kỷ”, cuối cùng họ, Huy Cận vẫn phải ôm lấy mình. nỗi cô đơn, buồn tủi giữa thiên nhiên rộng lớn nhưng đìu hiu, hiu quạnh:

Xem thêm bài viết hay:  Trình bày đặc điểm dân cư xã hội Đông Nam Á – Địa lý lớp 8

Lặng lẽ bờ xanh gặp bãi vàng

Ở đoạn thơ này, dường như bức tranh thiên nhiên rực rỡ hơn, ấm áp hơn nhưng vẫn toát lên vẻ tĩnh lặng, hấp dẫn, không có bóng dáng của con người. Bởi vậy, dù đẹp đến đâu thì đây cũng là một bức tranh buồn và dường như thiếu đi âm thanh ồn ào, vội vã của cuộc sống. Tả cảnh để tỏ tình, có lẽ đằng sau khung cảnh thiên nhiên ấy là nỗi đau của nhà thơ Huy Cận trước hiện thực.

Bốn câu thơ, bốn hình ảnh, đều gợi lên một khung cảnh thiên nhiên vắng lặng, đượm buồn không một tiếng động. Đằng sau khung cảnh ấy là nỗi lòng của nhà thơ, là nỗi đau, nỗi buồn cho những số phận chìm nổi, là sự bơ vơ, bất hạnh, cô đơn của kiếp người trong xã hội cũ. Nghệ thuật dùng từ “không” nói “có” kết hợp với bút pháp tả cảnh ngụ ngôn quen thuộc trong thơ cổ điển đã được vận dụng linh hoạt đã tạo cơ hội cho tác giả bày tỏ, bộc lộ cảm xúc của mình. Đọc bài thơ giúp ta hiểu vì sao Xuân Diệu từng đánh giá “Tràng Giang là bài thơ hát về non sông đất nước, dọn đường cho tình yêu quê hương đất nước”.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Phân tích khổ 3 Tràng Giang của Huy Cận chọn lọc siêu hay của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận