Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có kèm dàn ý

Vài nét về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm? Giới thiệu Nhân? Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm? Chủ đề khác về thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm?

Bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một tác phẩm tiêu biểu trong tập thơ Nôm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và cũng là một bài học quan trọng trong chương trình ngữ văn. Mời các bạn tham khảo bài viết Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có dàn ý

1. Đôi nét về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Nguyễn Bỉnh Khiêm quê ở làng Trung An, tổng Vĩnh Lại, huyện Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay là huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng) vào thời vua Lê Thánh Tông – đây là thời kỳ phát triển thịnh vượng nhất của triều đại. Tiểu Lê.

Xuất thân trong một gia đình trí thức điển hình, mẹ là con gái của quan Thượng thư nên Nguyễn Bỉnh Khiêm được giáo dục, dạy dỗ rất cẩn thận cả về vật chất lẫn tinh thần. Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ Trạng Nguyên khi đã hơn 40 tuổi, sau đó ông giữ nhiều chức vụ, được phong là Trình Tuyên Hầu rồi đến Trình Quốc Công nên người đời gọi là Trạng Trình.

Nguyễn Bỉnh Khiêm được ghi nhận là nhà hoạch định chiến lược tài ba và cũng là người thầy tiêu biểu được nhân dân kính trọng cho đến ngày nay. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dạy rất nhiều về đạo đức, phép học, cách học cho nhân dân và học trò. Người cho rằng giáo dục phải đóng vai trò hướng dẫn ý chí và hành động của người học, nhất là học tập phải gắn liền với lý tưởng vì nước.

Nguyễn Bỉnh Khiêm làm thơ rất nhiều. Về thơ chữ Hán có tập thơ Bạch Vân với số lượng lên đến cả nghìn bài thơ. Về thơ Nôm có tập thơ Bạch Vân Quốc Ngữ. Ông được gọi là người viết nhiều thơ nhất trong những năm đầu của nền văn học dân tộc.

2. Giới thiệu tác phẩm Nhàn:

Nhàn là bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, số 73 trong Bạch Vân am thi tập. Nhan đề bài thơ do người đời sau đặt.

Bố cục của bài thơ gồm bốn phần:

– Phần 1 (gồm 2 câu): Giới thiệu về hoàn cảnh sống của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

– Phần 2 (gồm 2 câu thực): Quan niệm nhân sinh và lẽ đời của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.

– Phần 3 (gồm 2 bài): Nguyễn Bỉnh Khiêm ở quê.

– Phần 4 (gồm 2 câu kết): Triết lý, lý tưởng sống thanh nhàn ở đời

Bài thơ như một lời bộc bạch chân thành và sâu sắc của tác giả, khẳng định lí tưởng sống thanh nhàn là hoà đồng, làm bạn với thiên nhiên, coi thường những danh lợi tầm thường, luôn giữ cốt cách, tư tưởng thanh cao, không màng hoài niệm. đối với vật chất vô tri vô giác trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.

Xem thêm bài viết hay:  Thuyết minh về thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật hay nhất

3. Dàn ý phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

3.1. Khai mạc:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm.

– Nêu vấn đề bài yêu cầu phân tích.

3.2. Thân bài:

Phân tích hai câu:

Mận, cuốc, cần câu: liệt kê một loạt nông cụ kết hợp với số từ “một”. Từ đó gợi lên hình ảnh cuộc sống của người nông dân đang cần mẫn đếm dụng cụ lao động, chuẩn bị mọi thứ cho ngày làm việc tiếp theo.

Nhịp thơ 2-2-3 chậm rãi, nhẹ nhàng, đều đặn: Cuộc sống nơi quê hương có phần vất vả, nhọc nhằn, lam lũ nhưng cũng như những người lao động khác, tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn yêu cái bình dị, thân quen.

Trạng thái làm việc “loay hoay”: tập trung vào công việc, tỉ mỉ

Cụm từ phủ định “dù ai có việc gì vui” mặc dù yêu nghề nhưng vẫn phủ nhận, đây là cách nói hài hước, hay ho.

Phân tích hai câu thực:

Nghệ thuật đối lập danh từ: ta – người và tính từ dại – khôn: lí tưởng sống dân dã của nhà thơ.

Nghệ thuật ẩn dụ:

– “Nơi hoang vắng”: là cuộc sống yên tĩnh, ít người, thanh bình và yên tĩnh, chỉ có ở một làng quê thôn dã.

– “Nơi loạn lạc”: nơi ồn ào, đông đúc, sôi nổi nhưng quá xô bồ, tranh đấu, đố kị, chỉ chỗ của quan lại.

Cách nói hóm hỉnh: Tôi dại – người khôn Hình như làm quan mới đem lại tiền tài, danh vọng cho người ta, còn ở quê chỉ có khó khăn, vất vả.

Tuy nhiên, cái dại ở đây là cái khôn vì ở quê người ta sống yên ổn. Khôn là dại vì quan làm người không phải mình.

⇒ Thể hiện quan niệm “ra rìa” và thái độ tự tin của tác giả khi lựa chọn

Phân tích hai câu:

Bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

– Cuộc sống hài hòa với thiên nhiên

– Ăn thức ăn đơn giản theo mùa: Mùa thu ăn măng, mùa đông ăn giá

– Đời thường: Xuân tắm hồ sen, hè tắm ao

– Nhịp 4/3 cùng với cấu trúc câu gợi ý một trạng thái chậm rãi.

⇒ Hai câu thơ là bức tranh bốn mùa với cảnh đẹp, cuộc sống đạm bạc nhưng hạnh phúc, thanh bình của Nguyễn Bỉnh Kiêm.

Phân tích hai câu kết:

Vận dụng linh hoạt câu chuyện về giấc mộng trong đêm: Là sự tự cảnh tỉnh cuộc đời, khuyên mọi người nên xem nhẹ mọi việc.

Động từ “trông” : Phong thái tự tin của Nguyễn Bỉnh Khiêm

⇒ Lý tưởng thanh nhàn: Biết từ bỏ những thứ vật chất phù phiếm, khi ra đi thì mọi thứ đều không còn ý nghĩa, chỉ còn lại tâm hồn và nhân cách.

Xem thêm bài viết hay:  Phân tích đặc điểm nhân vật Mên trong Bầy chim chìa vôi

3.3 Kết luận:

– Khẳng định lại nội dung, nghệ thuật của bài thơ và quan điểm của Nguyễn Bỉnh Khiêm về nhân sinh quan

– Nêu cảm nghĩ của cá nhân về bài thơ.

4. Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một tác giả có học thức, uyên bác, đã nhìn thấy nhiều điều sai trái trong chốn quan trường nên đã lên án lối sống với triết lý an nhàn, thư thái. Ông được biết đến với hai tập thơ chữ Hán “Bạch Vân am thi tập” và tập thơ chữ Nôm “Bạch Vân quốc ngữ thi”. Bài thơ “Nhàn” trích từ tập thơ chữ Hán “Bạch Vân am thi tập” là góc nhìn của tác giả về cuộc sống bình dị nhưng vui tươi, thanh bình nơi thôn quê.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm giới thiệu cảnh sống thanh bình nơi làng quê đồng bằng Bắc Bộ với những sinh hoạt quen thuộc:

Một quả mận, một cái cuốc, một cần câu,
Thơ dù ai có vui.

Câu thơ nhắc đến hình ảnh những vật dụng quen thuộc của người lao động nơi thôn quê với: cành mai, cuốc đào, cần câu. Nhà thơ đã khéo léo sử dụng số từ “một” kết hợp với phép liệt kê hàng loạt công cụ lao động để diễn tả một hình ảnh sẵn sàng lao động của người nông dân. Phong thái ung dung tự tại của Nguyễn Bỉnh Khiêm còn được thể hiện rõ qua cách ngắt nhịp theo 2/2/3. Tiếp theo, tác giả mô tả trạng thái làm việc của mình:

Thơ dù ai có vui.

Tính từ Lang thang bộc lộ rõ ​​phong thái thong dong, ung dung của một người đã xa lánh thế gian trần tục đầy những tranh giành, toan tính. Nụ cười nở trên khuôn mặt và trong từng bước đi thong thả của tác giả. Điệp ngữ “có sướng mấy ai” thể hiện quan niệm lập trường của nhà thơ khi đã lựa chọn.

Tiếp theo, chúng ta đến với hai câu thơ lí giải cái “khôn” và cái “dại” của nhà thơ trong việc lựa chọn cuộc đời của tác giả:

“Em khờ, em tìm chốn bình yên
Người khôn người đến chọn lao xao”

Trước sự lựa chọn của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhiều người sẽ cho là dại dột nên ông bày tỏ quan điểm sống ở đây. Nhà thơ nói dại ta về quê hẻo lánh, người khôn đến nơi náo nhiệt, có thể thấy ở đây tác giả sử dụng cách nói đối lập để nêu quan điểm của mình. Đồng thời, người đọc cũng thấy được lẽ sống của một người đã từ bỏ chức tước, về làng quy ẩn. Nói thì dại nhưng thực ra là khôn bởi cuộc sống của người nông dân vất vả nhưng tự do tự tại, nơi viên chức sung sướng nhưng đầy toan tính, tranh giành.

Xem thêm bài viết hay:  Ví dụ về hành vi đạo đức và chuẩn mực đạo đức của học sinh

Cũng như những trí thức Nho học khác, họ luôn muốn phục vụ đất nước, nhưng sâu thẳm trong lòng họ lại mong mỏi được trở về cuộc sống nhàn nhã giữa đời thường.

Thu ăn măng, đông ăn giá,
Mùa xuân tắm hồ sen, mùa hạ tắm ao hồ.

Hai câu thơ tiếp theo là bức tranh thủy mặc bốn mùa về cuộc đời thanh khiết của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trong hai câu thực, phép tương phản được sử dụng tương phản rõ rệt, phép đối ở hai câu tạo nên một cấu trúc đối xứng hoàn hảo. Hai động từ chính: eat/bathe nói về nhu cầu tối thiểu của mỗi người. Như vậy, cuộc sống của nhà Nho Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ đơn giản vậy thôi, đủ ăn đủ sống. Đó là cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên, món quà của thiên nhiên là nguồn sống không cần tranh giành. Ông sống thuận theo tự nhiên, mùa nào thức nấy, dùng việc gì cũng không cầu kỳ, đua đòi mà rất ung dung. Nguyễn Bỉnh Khiêm sẵn sàng đánh đổi của cải vật chất để được hưởng an nhàn.

Muốn rẻ, muốn nhàn nhã.

Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng như bất kỳ nhà thơ nào, không thể thiếu thú vui của cuộc đời, đó là rượu:

Rượu lên cây ta uống
Thấy phú quý như mộng.

Hai câu thơ dựa trên sự tích Thuần Vu Phân say rượu ngủ dưới gốc cây trúc. Chàng mơ thấy mình đang ở xứ Hòe An danh tiếng giàu có, nhưng khi tỉnh dậy chỉ thấy một cành cây chỉ bằng gang tấc. Ý nghĩa của nó là vật chất chỉ là thứ tầm thường và sẽ chẳng mất mát gì.

Như vậy, qua bài thơ, người đọc đã hiểu được lí tưởng sống thanh nhàn và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không xem danh lợi là gì, tâm hồn luôn thanh cao, hoà hợp với thiên nhiên. Ngoài ra, ngôn ngữ gần gũi mộc mạc nhưng giàu tính triết lý, vận dụng nhuần nhuyễn thể thơ trữ tình, những điển tích đi sâu thể hiện tài năng kiệt xuất của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm.

5. Các đề tài khác về thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

1. Qua phần phân tích bài thơ Nhàn, hãy nêu nhận xét về quan điểm sống Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

2. Cách thể hiện triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn.

3. Phân tích tài năng sử dụng nghệ thuật nghệ thuật tinh tế, điêu luyện của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có kèm dàn ý của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận