Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt chọn lọc siêu hay

Tình bà cháu luôn là tình cảm thiêng liêng, nó lại là nguồn sức mạnh thiêng liêng trong thời chiến, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu bài phân bài thơ bếp lửa của Bằng Việt để hiểu rõ hơn về tình cảm trân quý này nhé

1. Dàn ý phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt:

Mở bài: giới thiệu tác giả, tác phẩm

Thân bài:

* Phân tích:

– Hình ảnh bếp lửa gắn liền với những kỉ niệm vui buồn của tuổi thơ.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh bếp lửa, gắn liền với hình ảnh người bà tảo tần khuya:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm,
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm,
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa…

Bếp lửa gợi nỗi nhớ, khơi dậy cảm xúc. Từ lò sưởi gợi lên bàn tay khéo léo và sự kiên trì của người nhóm lửa. Bà đốt lửa mỗi sáng, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, suốt cuộc đời…
– Hồi tưởng về quãng thời gian được sống trong tình yêu thương, chăm sóc của bà.

Cuộc đời gian khổ của hai bà cháu trước cách mạng và trong kháng chiến, hàng loạt những hình ảnh giàu sức gợi: đói khát, ngựa khô, làng xóm bị giặc đốt… in đậm trong trang nhật ký. Ký ức đau thương của một cậu bé tám tuổi.
Bố mẹ đi kháng chiến, tác giả sống với bà ngoại, bà chăm sóc tác giả: Bà dạy làm việc, bà nuôi cháu ăn học…
Tuổi thơ gian khó gắn liền với bếp lửa bập bùng, ngọn lửa hiện diện như hơi ấm yêu thương, như sự chăm sóc, vỗ về của người bà dành cho đứa cháu thơ dại, như một phần đời gian khổ của chính bà.
Dù vất vả nhưng người bà vẫn vượt qua tất cả để cùng con chiến đấu nơi chiến trường xa:

Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen,
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn,
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng.

Đến đây, hình ảnh bếp lửa đã mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: tình yêu – sự sống – niềm tin bất diệt.

– Nhưng suy nghĩ của người cháu về người bà lại gắn liền với hình ảnh bếp hồng quen thuộc.

Tình yêu chân thành và lòng biết ơn. Có những điểm tương đồng giữa người bà và bếp lò. Bà là người giữ lửa, là người thắp lửa để ngọn lửa yêu thương trong mỗi gia đình luôn cháy sáng, nối liền quá khứ, hiện tại và tương lai.
Cháu giờ đã lớn, đã có thể bay xa, nhưng luôn nhớ về ngoại và bếp lửa của gia đình. Bếp lửa đã trở thành điểm nhớ, thành chỗ dựa tinh thần cho người cháu xa quê.

Kết bài: đánh giá lại giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật. 

2. Những bài phân tích Bếp lửa hay nhất:

2.1. Mẫu 1 – Bài phân tích Bếp lửa hay nhất:

Văn học ra đời giữa những vui buồn của con người và sẽ bầu bạn với con người cho đến tận thế. Mỗi tác phẩm nghệ thuật chân chính giống như một vũ khí cao quý và mạnh mẽ mà chúng ta có để thay đổi thế giới giả dối và tàn ác, làm cho tâm hồn con người trở nên trong sáng và phong phú hơn. Văn học truyền tải những tình cảm, cảm xúc cao đẹp, trong sáng cho tâm hồn con người hướng tới cái đẹp của chân, thiện, mỹ. Vì vậy, văn học giống như nguồn sống cho tâm hồn mỗi người. Những trang thơ làm giàu những cảm xúc ta đã có và làm giàu những cảm xúc ta chưa có. Bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt là một bài thơ như vậy. Còn viết về những tình cảm muôn thuở của con người đó là tình mẹ, tình yêu quê hương, đất nước ta đã gặp trong thơ ca dân gian, trong những trang văn hay của Hoàng Phủ Ngọc Tường về dòng sông quê hương, những câu ca dao, tục ngữ về dòng sông quê hương tình mẫu tử thiêng liêng. Nhưng tìm đến thơ Bằng Việt, đâu đó vẫn làm rung động tâm hồn ta với những trăn trở riêng, vẫn ám ảnh và đầy ắp kỉ niệm về sự hy sinh của người bà cần mẫn và tình yêu thương của bà cháu.

Bằng Việt bắt đầu làm thơ từ những năm 60 của thế kỷ XX. Ông là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ ông toát lên vẻ đẹp thuần khiết, mượt mà “như tranh lụa”; rất nồng nàn và sâu sắc khi viết về những kỉ niệm tuổi thơ, những năm tháng sinh viên, tình cảm gia đình và ” Bếp lửa cũng không ngoại lệ. Tác phẩm được sáng tác năm 1963, khi tác giả là sinh viên luật tại Liên Xô, là tuyển tập thơ đầu tay của Bằng Việt.

Mạch cảm xúc của bài thơ đi từ kỉ niệm đến hiện tại, từ hoài niệm đến chiêm nghiệm. Điều đó được gợi mở qua hình ảnh bếp lửa quê hương và hình ảnh người bà. Từ đó, người cháu (Bằng Việt) bày tỏ nỗi nhớ về những ký ức tuổi thơ được sống trong sự yêu thương, chăm sóc của bà. Đồng thời thể hiện lòng biết ơn, kính trọng của người cháu đối với bà, gia đình, quê hương, đất nước.

Trước hết là hình ảnh “bếp lửa” – nơi khơi nguồn cho những cảm xúc nhớ nhung, thương nhớ người bà kính yêu. Ở phương xa, người cháu luôn hướng về quê hương, nơi đó có gia đình, những người thân yêu, có bà ngoại và cả những kỷ niệm đẹp đẽ khi còn thơ bé. Và đoạn hồi tưởng xúc động ấy được bắt đầu bằng hình ảnh “bếp lửa” thân thương:

“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”

Hình ảnh bếp lửa “chờn vờn sương sớm” giàu chất hiện thực, gợi hình ảnh ngọn lửa ẩn hiện bập bùng trong sương sớm. Những viên than hồng đỏ đầy cảm xúc được nhóm lên bởi bàn tay hiền lành, cần cù, khéo léo và trái tim nhỏ bé của người bà. Đồng thời, ngọn lửa ấy cũng đọng lại trong tâm trí, trong nỗi nhớ đầy ám ảnh của nhà thơ, nâng niu, trân trọng và gìn giữ. Từ đó, đánh thức trong lòng người cháu nỗi nhớ da diết đối với người bà – người nhóm lửa mỗi sớm mai:

“Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”

Cụm từ “biết mấy nắng mưa” diễn tả đức tính cần cù, chịu thương, chịu khó, đức hi sinh của người bà. “Tình” là tình cảm chân thành, xuất phát từ trái tim giàu tình yêu thương, sẻ chia, chứa đựng lòng kính trọng, lòng biết ơn sâu sắc, nỗi nhớ da diết của người cháu đối với bà.

Như vậy, với ba câu thơ mở đầu tác phẩm, Bằng Việt đã bày tỏ nỗi nhớ da diết về bếp lửa quê hương và người bà kính yêu. Có thể coi đây là khúc dạo đầu cho việc viết về nỗi nhớ. Từ đó định hướng cảm xúc cho toàn bài viết. Bài thơ sẽ là những suy nghĩ, hoài niệm của người cháu về bếp lửa, về người bà và cả những kỉ niệm vui buồn khi còn ở bên bà.

Nhắc đến tuổi thơ, có lẽ trong mỗi chúng ta thường nghĩ đến những năm tháng hồn nhiên, trong sáng và thuần khiết khi được sống trong sự đầy đủ cả về vật chất lẫn tình cảm của cha mẹ và những người thân yêu. Nhưng với những thế hệ như lớp nhà thơ Bằng Việt, sao có thể thế được khi họ phải sống trong những năm tháng chiến tranh loạn lạc, sự sống và cái chết trong gang tấc. Bởi vậy, khi nghĩ về tuổi thơ, những ký ức trong ký ức như một thước phim quay chậm lần lượt hiện ra trong tâm trí Bằng Việt với biết bao thiệt thòi, vất vả, thiếu thốn, khổ cực. Ký ức đầu tiên đó là khi cháu bốn tuổi:

Xem thêm bài viết hay:  Phân tích vai trò, đặc điểm và vị trí của ngành giao thông vận tải

“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”

Thành ngữ “đói mòn đói mỏi” mô tả tình trạng đói kéo dài gây mệt mỏi, lờ đờ và kiệt sức. Vì thế, cái đói khiến con ngựa gầy guộc, hình ảnh người cha đánh xe ngựa cũng héo hon, tiều tụy, xanh xao, tất cả đều khiến người đọc chạnh lòng khi nhớ lại. Năm Ất Dậu 1945 xảy ra nạn đói khủng khiếp. Lúc đó tác giả ở với bà ngoại và cùng bà đốt lửa, khói bếp cay xè cả mắt”, giờ nghĩ lại cây cầu của tôi. Sống mũi còn cay.” Làn khói ấy đậm đà, in sâu vào tâm trí đứa cháu hay chính là những gian nan, vất vả của đói nghèo, chiến tranh, loạn lạc trong tuổi thơ của cháu, nước mắt và dày đặc khói thuốc giọng thơ trầm thấp đượm một nỗi buồn chua xót khi nỗi nhớ tuổi thơ tràn về trong lòng nhà thơ khiến “sống mũi vẫn cay cay”.

Tiếp theo là những dòng hoài niệm về 8 năm dài đằng đẵng thời chiến với bà:

“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Tu hú ơi! chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

Tiếng chim tu hú quen thuộc ở quê mỗi độ hè về lại xoáy vào lòng người xa xứ. Tiếng tu hú được tái hiện với nhiều cung bậc, nhiều tình huống khác nhau: có khi vọng lại từ cánh đồng xa (ruộng xa) gợi một không gian rộng lớn, bao la và tĩnh lặng ; có khi tất bật, lo âu làm người ta sống lại những kỷ niệm xa xăm (Hỏi em có nhớ không, có nhớ những ngày ở Huế); có khi thật giả, nỗi nhớ đến cánh đồng khô lạnh, heo hút (gọi nỗi nhớ cánh đồng xa)… Tiếng chim tu hú trở thành điệp khúc chủ đạo của những dòng hoài niệm tám tuổi, có tác dụng gợi tả không gian sống yên tĩnh, hấp dẫn, bao la; vừa gieo vào lòng người đọc một nỗi buồn trống vắng đến da diết, choáng ngợp. Tuy nhiên, tuổi thơ của đứa trẻ vẫn thấm đẫm tình yêu thương và sự chăm sóc của người bà thân yêu. “Bố mẹ bận công việc không về”, hai bà cháu nương tựa vào nhau. Bên bếp lửa, bà kể chuyện, dạy bảo, chăm sóc cho cháu. Các động từ: “bà dặn, bà dạy, bà chăm” thể hiện sâu sắc và sâu sắc tình thương yêu bao la, sự quan tâm của người bà dành cho đứa cháu của mình. Vì thế, bà trở thành nguồn hơi ấm, niềm an ủi, nuôi nấng, che chở, gìn giữ tổ ấm gia đình.

Những năm tháng đất nước có chiến tranh, khó khăn, ác liệt và biết bao đau thương, mất mát luôn in đậm trong tâm trí người cháu. Và có một kỷ niệm trong ký ức mà người cháu dù đã trưởng thành vẫn không bao giờ quên:

“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

Nỗi đau đớn tột cùng khi giặc kéo về làng đốt phá đình làng, bà vẫn âm thầm chịu đựng, cố gắng đứng lên để giành được sự giúp đỡ, đùm bọc của dân làng. Bà không muốn cháu trai mình ở vùng chiến sự biết rằng công việc ở nhà ảnh hưởng đến công việc của cháu trong quân đội. Đó không phải là phẩm chất cao quý của những bà mẹ Việt Nam anh hùng trong chiến tranh. Ta đọc thấy ở đây sự hy sinh thầm lặng, cao cả và thiêng liêng của người bà, người mẹ nơi hậu phương luôn muốn gánh vác cùng con cháu, cùng đất nước đánh đuổi quân xâm lược, đem lại tự do cho dân tộc. Lời dặn của người bà vẫn được người cháu “quyết tâm” mãi mãi, được trích dẫn nguyên văn và được nhắc lại trực tiếp khi người cháu viết thư cho bà, cho thấy đức tính của người bà thật đáng quý biết bao. Vì vậy, qua đây ta mới thấy hết công lao to lớn của người mẹ Việt Nam đối với cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Có được chiến thắng đó không chỉ có sự đóng góp trực tiếp của các chiến sĩ ngoài tiền tuyến mà còn có sự đóng góp to lớn của những người phụ nữ ở hậu phương.

Sau khi hồi tưởng về tuổi thơ bên bà ngoại, người cháu tiếp tục suy tư, ngẫm nghĩ về cuộc đời của bà qua hình ảnh bếp lửa:

“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…”

Từ “lò sưởi” trong bài thơ gợi “ngọn lửa” mang ý nghĩa trừu tượng, khái quát. Bếp lửa chị thắp mỗi sớm mai không đơn thuần làm bằng những chất liệu tự nhiên mà đã được tác giả nâng lên thành biểu tượng của tình yêu và niềm tin trong sáng, mãnh liệt. Cụm từ “một ngọn lửa” mang ý nghĩa nhấn mạnh sự sống bất diệt của ngọn lửa; Nó cũng có ý nghĩa thể hiện tình yêu thương mà người bà dành cho đứa cháu của mình. Bếp lửa là hình ảnh khúc xạ cho tâm hồn, ý chí và nghị lực sống phi thường của người bà. Vì vậy, bà không chỉ là người thắp lửa, giữ lửa mà còn là người giữ lửa, truyền lửa cho đứa cháu trai yêu quý của mình. Đó là ngọn lửa của sự sống, là niềm tin cho thế hệ sau.

Từ suy ngẫm về vai trò của người bà trong cuộc sống, tác giả tiếp tục khẳng định phẩm chất cao quý của người bà: cần cù, giàu đức hy sinh và giàu lòng nhân ái:

“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”

Khổ thơ cuối là lời tâm sự chân thành của người cháu khi lớn lên và trưởng thành. Dù khoảng cách về không gian và thời gian có xa xôi “khói trăm tàu, lửa trăm nhà, niềm vui trăm phương” nhưng người cháu vẫn đau đáu trong lòng một nỗi nhớ da diết về bà và bếp lửa. Sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại, giữa “khói lửa” của cuộc sống hiện đại và bếp lò bình dị, mộc mạc của bà đã cho thấy sức sống bất diệt của ngọn lửa mà bà thắp lên sáng tối.Sống và sống mãi trong lòng những đứa cháu.Ngọn lửa ấy đã trở thành ký ức tuổi thơ của bà – người truyền lửa, truyền sự sống, tình yêu thương và niềm tin bất diệt cho thế hệ mai sau , nhớ bà là nhớ bếp lửa, nhớ về cội nguồn dân tộc. Đoạn thơ khép lại bằng một câu hỏi tu từ thể hiện nỗi nhớ da diết, nỗi nhớ xa xăm của người cháu luôn đau đáu, tha thiết nhớ về tuổi thơ của mình, hi gia đình, quê hương, đất nước.

Xem thêm bài viết hay:  Tại sao năm 1960 được gọi là Năm châu Phi? Môn Lịch sử 9

Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt là một bài thơ dạt dào cảm xúc. Hình ảnh bếp lửa được thể hiện độc đáo qua giọng điệu thiết tha, giàu cảm xúc; nhịp thơ linh hoạt; kết hợp với phép điệp ngữ được sử dụng biến tấu khiến cho lời thơ với hình ảnh ngọn lửa bùng cháy, bốc lên, mỗi lúc thêm nồng nàn, ấm áp. Từ đó, khiến người đọc vô cùng thấm thía, xúc động trước nỗi nhớ da diết về những kỉ niệm tuổi thơ bên người cháu và tấm lòng chân thành của nhà thơ đối với người bà kính yêu của mình. Qua đó, ta càng thấy yêu, càng thấy trân trọng gia đình, quê hương, đất nước.

2.2. Mẫu 2 – Bài phân tích Bếp lửa hay nhất:

Tuổi thơ của mỗi người gắn liền với vô vàn kỉ niệm bên người thân, bạn bè, bên cạnh đó là những cảm xúc, tình cảm dành cho nhau để sau này khi lớn lên lại dùng những kỉ niệm đó tiếp tục hành trình của mình đời sống. Nhiều tác phẩm văn học, thơ ca, truyện ngắn đều xuất phát từ tình cảm thiêng liêng ấy, tình vợ chồng, tình mẹ con, tình đồng chí, tình quê hương,… Tác giả Bằng Việt đã viết bài thơ “Bếp lửa” với tình cảm và nỗi nhớ nhung về người bà của mình trong thời gian du học ở Liên Xô năm 1963. Hình ảnh người cháu và người bà trải qua cuộc sống khó khăn nhưng chan chứa tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc, nuôi nấng trong những ngày tháng bố mẹ đi công tác xa và hạnh phúc bên ngọn lửa ấm áp yêu thương.

“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”

Hình ảnh bếp lửa được miêu tả từ ba câu thơ đầu qua cụm từ “bếp lửa” và từ “chờ đợi” để ta hình dung ra một khung cảnh bình dị, đơn sơ nhưng ấm áp tình người. Bếp lửa nhóm lên ôm bao nỗi nhớ bà, chứa bao kỉ niệm của đứa cháu nhỏ và bà. Người bà nhân hậu đã thắp lên ngọn lửa tình cảm ấy, cũng giống như sự dịu dàng chăm sóc của bà đối với những đứa cháu, hình ảnh người bà như làn khói bếp mỗi sớm mai, hình ảnh người bà chịu thương chịu khó. Nắng mưa phùn càng thắp lên trong lòng người cháu in rõ bao nỗi nhớ. Từ hai câu đầu qua hình ảnh bếp lửa mỗi sáng, tác giả khắc họa ngọn lửa đầy ắp kỉ niệm, ngọn lửa chan chứa yêu thương, ngọn lửa thắp sáng. Ở những câu tiếp theo, bao nhiêu cảm xúc như vỡ òa trong giây lát “Thương bà biết bao nhiêu nắng mưa”, tác giả đau lòng, xót xa trước nỗi nhớ hình ảnh bà dù mưa hay nắng vẫn chăm chút cho nhau cháu đầy đủ. Cái ăn, cái mặc, những vất vả cả đời bà dành cho cháu, không một lời nói, bà âm thầm làm tất cả vì cháu, tất cả đều là sự hy sinh thầm lặng của người bà kính yêu. Qua đây ta thấy được rằng trong lòng tác giả hình ảnh người bà thiêng liêng biết bao, có cả một trời thương nhớ bà, một câu “Cháu yêu bà” cũng sẽ để lại ý nghĩa sâu sắc trong lòng chúng ta.

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”

Trong đoạn văn này, kí ức không phải là những hình ảnh dịu dàng như “đợi sương sớm” hay “vòng ôm ấm áp” mà là những kỉ niệm ám ảnh trong tâm trí tác giả, đứa cháu lên bốn tuổi và người bà cơ cực đang trải qua cuộc chiến nạn đói năm 1945. Không khí đìu hiu, tang thương của nạn đói nhờ người bà kính yêu của cháu đã phần nào vơi bớt, bà vất vả sớm hôm đi mót từng củ khoai, cuốc từng củ sắn để giúp con ăn bớt đói. Thành ngữ “đói mòn đói mỏi” nghe như tiếng kêu đau lòng, nỗi ám ảnh của đứa trẻ hằn sâu trong tâm trí, nỗi sợ hãi. Khác với nhiều người nghĩ về tuổi thơ của mình như một mảng màu hồng, đối với tác giả đó là một mảng màu xám xen lẫn với màu đỏ của máu từ nỗi đau của nạn đói, nạn đói khủng khiếp, nạn đói lịch sử giết chết hơn hai triệu người. Nhưng có bà luôn ở bên che chở, có làn khói bếp xóa đi phần nào nỗi đau đói rét, ký ức vẫn còn mang chút hơi ấm làm cháu quên đi nỗi khổ. Chi tiết “khói làm cay mắt cháu” để thấy cảnh đứa trẻ bốn tuổi cố che đậy những ám ảnh đói khát bằng khói bếp của mình và chi tiết “cay mũi” vì mùi cay nồng của khói cố giấu đi cái mùi máu tanh trong những ngóc ngách, cay cay vì đứa trẻ ấy đã phải chịu cảnh “đói ăn đói rét” đang len lỏi dần vào từng mảnh ký ức thơ ngây, mang theo nỗi sợ đói, mang theo cả những cơn thèm khát từng củ khoai, củ sắn, rồi những món ăn bình dị cũng trở thành “món ngon nhân gian”.

“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế”

“Tám năm” là khoảng thời gian dài mà cháu và bà luôn thắp lên ngọn lửa yêu thương, hơi ấm, ngọn lửa của cuộc đời, quãng thời gian ấy dẫu có gian nan, vất vả nhưng với bà đó vẫn là sự thật bình yên. Tuổi thơ của đứa cháu gắn liền với người bà với ngọn lửa yêu thương, gắn với tiếng tu hú ngoài đồng như thúc giục người nông dân nhanh chóng ra đồng thu hoạch để thoát khỏi đói khát. Bên cạnh đó, khi tiếng tu hú như tiếng chuông: “Bà ơi! Kể chuyện bà nghe”. Điệp từ “tu hú” được lặp lại ba lần như khẳng định nỗi nhớ da diết của tác giả bởi trong văn học nghệ thuật, con tu bao là biểu tượng của một nỗi nhớ da diết. Tiếng tu hú trở thành kỉ niệm dịu dàng về tình cảm giữa tác giả và người bà.

Xem thêm bài viết hay:  Đưa vào cơ sở chữa bệnh là gì? Biện pháp bắt buộc chữa bệnh?

“Mẹ cùng cha công tác bận không về,
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

Những câu thơ giản dị, mộc mạc ấy vẫn cho thấy sự tận tụy chăm sóc cháu của bà khi “mẹ cha bận công việc không về”. Cấu trúc “bà-cháu” thể hiện tình cảm yêu thương, gắn bó của người bà với đứa cháu. Hình ảnh “bà dạy cháu làm”, dạy cháu làm người, dạy cháu biết tự lập cho cuộc sống của mình, dạy cháu biết yêu thương gia đình, hình ảnh “bà chăm cháu ăn học. ” bà đã dạy cháu từng nét vẽ, lời nói, bà đã cho cháu kiến thức để giúp ích cho đất nước trong tương lai. “Đội lửa nghĩ đến bà vất vả” đứa cháu nhỏ lo lắng cho bà, thấy bà vất vả người cháu cùng bà đốt lửa giúp bà vơi đi phần nào vất vả. Rồi có phần trách đứa trẻ ngây thơ, trách tu hú sao không đến ở với bà, phụ giúp công việc, để bà cô đơn buồn tủi, mà tu hú sao lại luôn tung cánh bay đi.

3. Bài phân tích Bếp lửa đặc sắc, ấn tượng nhất:

Có những câu thơ, bài thơ chỉ nghe thôi đã chạm đến trái tim người đọc nhưng lại khiến họ nhớ mãi không quên. Đọc thơ Bằng Việt, chắc chắn người đọc sẽ nhận ra sức lan tỏa kỳ diệu của ngôn từ. Bài thơ Bếp lửa được sáng tác trong những năm tháng kháng chiến với sự gần gũi, ấm áp của ông bà và tuổi thơ gian khổ. Bằng Việt đã thổi hồn vào “bếp lửa” một thời ký ức tươi đẹp nhất.

Bài thơ “Bếp lửa” như tiếng lòng của người cháu đối với bà trong những năm tháng tuổi thơ đầy gian nan, lo âu. Hình ảnh “bếp lửa” gần gũi, giản dị trong mỗi gia đình Việt Nam xưa nhưng dường như có sức ám ảnh, lay động trái tim tác giả. Bởi bếp lửa gắn liền với bà, gắn với những kỉ niệm tuổi thơ không thể phai mờ.

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
Ôi kỳ lạ và thiêng liêng bếp lửa

Điệp từ “một bếp lửa” có sức truyền cảm, cảm xúc lớn mà chân thành, gợi cho tác giả luôn có một nỗi nhớ thường trực trong đó. Hình ảnh ngọn lửa “đong đưa”, “ấp ủ” thể hiện sự gắn bó, không thể tách rời. Hàng loạt kí ức về bà, về kỉ niệm xưa cứ ùa về thật mạnh mẽ khiến tác giả phải thốt lên “ôi”. Một chữ “ôi” sao mà chan chứa yêu thương, thiêng liêng quá, tha thiết quá. Chắc hẳn Bằng Việt đã có những năm tháng đáng nhớ và đáng quý khi ở bên bà. Kỉ niệm cứ ùa về:

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại bây giờ sống mũi còn cay

Một tuổi thơ khốn khó, vất vả bên cạnh bà. Một cậu bé bốn tuổi đã quá quen thuộc với mùi khói từ đám cháy. Đất nước rơi vào ách đô hộ, nạn đói thảm khốc là điều khó tránh khỏi. Khói bếp tuổi thơ trong khóe mắt, âm ỉ cả một bầu trời tuổi thơ. Chữ “cay” cuối câu thơ như lắng lại, gieo vào lòng người một nỗi buồn man mác. Là sống mũi “cay” hay cay đắng tuổi thơ, là thương bà, thương cha mẹ hay thương bếp lửa sớm mai.

Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế

“Tám năm” là khoảng thời gian dài, khoảng thời gian tuổi thơ cháu vất vả bên bà ngoại. Bà và cháu cùng nhau đốt lửa, thắp sáng cuộc đời và thắp sáng tình yêu thương vô bờ bến. Tiếng “tu hú” lặp đi lặp lại trong câu thơ làm cho nhịp thơ đau đớn, khắc khoải. Tu hú sao gọi là hè, tu hú sao gọi là lúa chín, cả ước mơ của cháu tôi về tương lai đất nước hòa bình, độc lập.

Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa

Một bài thơ cảm động. Một khổ thơ cảm động được bộc lộ ra sau bao năm đè nén trong lòng. Những năm tháng chung sống với bà tuy khó khăn nhưng tràn đầy yêu thương. Cậu bé thương bà vất vả bên bếp lửa, thương bà một mình nuôi cháu khôn lớn. Và tiếng tu hú làm lòng nặng trĩu.

Tình bà cháu trong bài thơ này thực sự khiến người đọc rơi nước mắt. Đất nước chìm trong bom đạn nhưng bà luôn bảo vệ, chăm sóc cho anh từ bữa ăn đến giấc ngủ. Không có tình yêu nào thiêng liêng và cao cả hơn.

Nhưng chiến tranh đã lấy đi bao nhiêu thứ, máu và nước mắt, cả tình yêu:

Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh
Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên

Sự hi sinh cao cả của người bà dành cho cháu. Dù gian khổ, mất mát, hậu phương phải luôn là chỗ dựa vững chắc, bình yên nhất cho tiền tuyến. Hình ảnh người bà trong bài thơ này đầy đức hy sinh cho gia đình, cho đất nước. Lời dặn dò của bà với cháu nặng như ngàn thu, chan chứa tình cảm sâu sắc. Bà thương cháu, thương con, thương quê nghèo.

Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
Nhóm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo sẻ chung đôi

Khổ thơ cuối là khoảnh khắc trở về với thực tại của tác giả, như một chuyến trở về tuổi thơ. Giọng thơ trùng xuống, xúc động nghẹn ngào:

Giờ cháu đã đi xa, có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa

Đứa cháu bé nhỏ của bà giờ đã lớn, đến một đất nước xa xôi cách bà nửa vòng trái đất, nhưng những ký ức tuổi thơ ấy mãi là một điều thiêng liêng mà bà luôn trân trọng. 

Bài thơ “Bếp lửa” với ngôn từ giản dị, hành văn nhẹ nhàng nhưng dường như khiến người đọc thấy cay cay nơi khóe mắt. Một bài thơ chan chứa yêu thương, chan chứa hạnh phúc giữa bao cay đắng của cuộc đời.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt chọn lọc siêu hay của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận