Nguồn của pháp luật là gì? Các loại nguồn của pháp luật Việt Nam?

Nguồn của luật là gì? Nguồn của luật Việt Nam bao gồm: Các văn bản quy phạm pháp luật, án lệ và luật tục.

Khi nghiên cứu khoa học, lý luận chung về nhà nước và pháp luật, một trong những nội dung quan trọng thuộc phạm vi “luật” là nguồn của luật. Khái niệm nguồn luật đã được đưa ra theo nhiều quan điểm khác nhau, và nhất thiết phải tìm ra khái niệm chung nhất, đúng với thực chất của nó.

Luật sư tư vấn pháp luật qua điện thoại Trực tuyến miễn phí:

1. Nguồn của luật là gì?

Trong khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay, có một số quan điểm khác nhau về nguồn của luật. Như là :

Nguồn của luật là tất cả những căn cứ mà các cơ quan có thẩm quyền sử dụng làm căn cứ để xây dựng và thực hiện luật cũng như áp dụng để giải quyết các vụ án pháp lý xảy ra trong thực tế. Theo quan điểm này, nguồn luật bao gồm nguồn nội dung và nguồn hình thức. Trong đó nguồn nội dung của pháp luật là nguồn gốc, nguyên nhân và chất liệu tạo nên các quy định cụ thể của pháp luật. Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn, vấn đề nguồn nội dung của luật nói chung không có nhiều ý nghĩa, ngược lại, nguồn hình luôn được quan tâm.

Khi thực hiện các hành vi pháp lý, các cơ quan Nhà nước, các chủ thể có thẩm quyền, các cá nhân, tổ chức trong xã hội đều dựa trên những cơ sở pháp lý nhất định. Các yếu tố chứa đựng hoặc cung cấp cơ sở pháp lý cho hoạt động của các chủ thể được coi là nguồn của pháp luật, từ đó xuất hiện khái niệm: Nguồn của pháp luật là tất cả các yếu tố chứa đựng hoặc cung cấp cơ sở pháp lý cho các chủ thể thực hiện hành vi thực tế hay nói cách khác là nguồn của pháp luật là tất cả các yếu tố chứa đựng hoặc tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền cũng như các chủ thể khác trong xã hội- Một quan điểm được nhiều người đồng tình.

Theo quan điểm trên, có thể thấy rằng có mối quan hệ giữa nguồn luật và hình thức bên ngoài của luật. Cũng có quan điểm cho rằng nguồn luật đồng nhất với hình thức bên ngoài của luật, cũng có quan điểm cho rằng nguồn luật có phạm vi rộng hơn hình thức bên ngoài của luật.

Trên thế giới, nguồn luật khá phong phú, bao gồm: các văn bản dưới luật; Phong tục Pháp; tiền lệ hợp pháp ; chủ trương, chính sách của lực lượng cầm quyền; quan điểm, tư tưởng, học thuyết pháp luật, điều ước quốc tế; quan niệm, chuẩn mực đạo đức xã hội; hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư, cơ sở tín ngưỡng; hợp đồng dân sự, thương mại,… Trong đó văn bản quy phạm pháp luật, tập quán pháp là nguồn cơ bản, còn các nguồn khác là nguồn bổ sung, thay thế khi không có loại nguồn cơ bản. Điều ước quốc tế cũng đang dần trở thành nguồn cơ bản của pháp luật trong bối cảnh hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng.

2. Các loại nguồn của pháp luật Việt Nam:

2.1. Tài liệu hợp pháp:

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do chủ thể có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức do pháp luật quy định, trong đó có những quy tắc xử sự chung để điều chỉnh các quan hệ xã hội. ngày hội.

Xem thêm bài viết hay:  Hiện tượng khúc xạ ánh sáng là gì? Định luật khúc xạ ánh sáng?

Văn bản quy phạm pháp luật có những ưu điểm là chính xác, rõ ràng, minh bạch, thống nhất và đồng bộ của cả hệ thống pháp luật, dễ phổ biến, áp dụng nên trở thành nguồn quan trọng của đời sống hàng ngày. người đứng đầu luật pháp Việt Nam.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có nhiều loại văn bản quy phạm pháp luật do các chủ thể có thẩm quyền ban hành, có giá trị pháp lý cao thấp khác nhau, trong đó, văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành được gọi là luật, các văn bản quy phạm pháp luật khác được gọi là văn bản dưới luật. Cũng như các nước trên thế giới, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là văn bản có hiệu lực pháp luật cao nhất, sau đó là văn bản quy phạm pháp luật, sau đó là văn bản quy phạm pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. nguyên thủ quốc gia, các văn bản quy phạm pháp luật do chính phủ, thủ tướng ban hành và cuối cùng là các văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành.

xem thêm: Phân tích cấu trúc tâm lý của hoạt động, ứng dụng của nó trong hoạt động học

Một số ví dụ về nguồn luật là văn bản quy phạm pháp luật: Nguồn của Luật dân sự là Bộ luật dân sự năm 2015 và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành; Nguồn của BLHS là BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, các thông tư liên tịch giữa Tòa án và Viện kiểm sát, Bộ Công an; Nguồn của Luật Hành chính là Luật Xử lý vi phạm hành chính,…

2.2. Tiền lệ phán xét:

Án lệ là bản án, quyết định của chủ thể có thẩm quyền khi giải quyết những vụ án cụ thể, được nhà nước công nhận là khuôn mẫu để giải quyết những vụ án tương tự khác.

Án lệ vừa là nguồn vừa là hình thức của luật. Đây là loại nguồn pháp lý khá phức tạp. Ưu điểm của án lệ là linh hoạt, hợp lý, phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Hạn chế của án lệ là thủ tục áp dụng phức tạp, đòi hỏi người áp dụng phải hiểu biết thực sự sâu và rộng về pháp luật.

Ở Việt Nam, chỉ có án lệ mới được Tòa án thụ lý. Trên thực tế, có hai loại án lệ, một là án lệ tạo ra các nguyên tắc, quy phạm pháp luật mới, đây là loại án lệ cơ bản, gắn liền với chức năng tạo lập pháp luật của tòa án; Thứ hai là tiền lệ được hình thành bởi quá trình tòa án giải thích các quy định của luật thành văn.

Việt Nam đã thừa nhận 39 trường hợp tiền lệ như sau:

– Năm 2016: Vụ án số 01/2016 về vụ án Giết người; Án lệ số 02/2016 về tranh chấp thu hồi tài sản; Án lệ số 03/2016 về vụ án ly hôn; Án lệ số 04/2016 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Án lệ số 05/2016 về tranh chấp thừa kế; Án lệ số 06/2016 về vụ án tranh chấp tài sản thừa kế; Án lệ số 07/2016 về công nhận hợp đồng mua bán nhà ở trước ngày 01/7/1991; Án lệ số 08/2016 về xác định lãi suất và điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm; Vụ án số 09/2016 về việc xác định lãi suất nợ quá hạn bình quân trên thị trường và việc trả lãi đối với số tiền phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại; Án lệ số 10/2016 về quyết định hành chính bị khởi kiện vụ án hành chính;

Xem thêm bài viết hay:  Thương lượng tập thể là gì? Đặc điểm, vai trò và quy trình thương lượng tập thể?

– Năm 2017: Án lệ số 11/2017 / AL về công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản không thuộc sở hữu của bên thế chấp; Án lệ số 12/2017 / AL về xác định trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất sau khi Tòa án tạm hoãn phiên tòa; Vụ án số 13/2017 / AL về hiệu lực của thư tín dụng (L / C) trong trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà L / C làm căn cứ bị hủy bỏ; Vụ án số 14/2017 / AL về việc ghi nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà trong hợp đồng không ghi rõ điều kiện; Vụ án số 15/2017 / AL về việc ghi nhận thỏa thuận bằng miệng của các đương sự trong việc chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; Án lệ số 16/2017 / AL về công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng;

– Năm 2018: Tiền án số 17/2018 / AL về tội “Giết người” cùng đồng phạm; Tiền án số 18/2018 / AL về hành vi Giết người thi hành công vụ thuộc tội “Giết người”; Vụ án số 19/2018 / AL về việc xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt thuộc tội “Tham ô tài sản”; Án lệ số 20/2018 / AL về xác lập quan hệ hợp đồng lao động sau khi hết thời gian thử việc; Vụ án số 21/2018 / AL về lỗi và thiệt hại trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê tài sản; Trường hợp số 22/2018 / AL về việc không vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin bệnh tật trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; Án lệ số 23/2018 / AL về hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khi bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm do lỗi của doanh nghiệp bảo hiểm; Vụ án số 24/2018 / AL về thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân; Vụ án số 25/2018 / AL về việc không phải nộp phạt đặt cọc vì lý do khách quan; Án lệ số 26/2018 / AL về xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu, thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản;

xem thêm: Sự khác biệt giữa cấu trúc nguồn luật trong Luật dân sự và Thông luật

– Năm 2019: Án lệ số 27 / AL / 2019 về thụ lý, giải quyết các vụ án hành chính về nhà đất do Nhà nước quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách quản lý nhà đất và chính sách xã hội chủ nghĩa. cải tạo trước ngày 1 tháng 7 năm 1991; Vụ án số 28/2019 / AL về tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh“;

Xem thêm bài viết hay:  Tỷ lệ nhấp chuột là gì? Nội dung và phân loại tỷ lệ nhấp chuột?

– Năm 2020: Vụ án số 29/2019 / AL về tội chiếm đoạt tài sản thuộc tội “Cướp tài sản”. Án lệ số 30/2020 / AL về hành vi cố ý lái xe đè nạn nhân sau khi xảy ra tai nạn giao thông; Tiền lệ số 31/2020 / AL về việc xác định quyền thuê, mua nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước theo Nghị định số 61 / CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ là quyền tài sản; Án lệ số 32/2020 / AL về trường hợp đất do cá nhân khai thác nhưng sau đó xuất cảnh, định cư ở nước ngoài và người khác quản lý, sử dụng ổn định lâu dài; Án lệ số 33/2020 / AL về trường hợp cá nhân được Nhà nước giao đất nhưng không sử dụng mà cho người khác quản lý, sử dụng ổn định lâu dài; Án lệ số 34/2020 / AL về quyền lập di chúc xác định giá trị được bồi thường về đất trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất có bồi thường; Trường hợp số 35/2020 / AL về việc người Việt Nam trước khi ra nước ngoài định cư giao đất nông nghiệp cho người trong nước sử dụng; Án lệ số 36/2020 / AL về hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thu hồi, hủy bỏ; Vụ án số 37/2020 / AL về hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm tài sản trong trường hợp bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm sau khi kết thúc thời hạn đóng phí bảo hiểm, Vụ án số 38/2020 / AL về việc không chấp nhận yêu cầu bồi thường tài sản bị chia cắt bởi một bản án đã có hiệu lực pháp luật; Vụ án số 39/2020 / AL về việc xác định giao dịch dân sự có điều kiện là vô hiệu do không thể có điều kiện.

2.3. Thực hành pháp lý:

Tập quán pháp luật là những tập quán của cộng đồng được nhà nước thừa nhận và nâng thành pháp luật. Kể từ năm 1995, khi nhà nước ban hành bộ luật dân sự đầu tiên cũng là thời điểm Việt Nam chính thức công nhận luật tục là nguồn luật. Ở nước ta, có hai con đường dẫn đến sự tồn tại của tục lệ:

– Các tập quán được quy định trong các điều, khoản của văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các văn bản thuộc lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình như bồi thường thiệt hại do chăn thả gia súc. trong lĩnh vực dân dụng.

– Tập quán được áp dụng để giải quyết các trường hợp cụ thể, ví dụ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình: trường hợp pháp luật không có quy định và các bên không thỏa thuận được thì áp dụng tập quán. Tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản và không vi phạm điều cấm được quy định trong văn bản đó.

Ngoài các nguồn trên, pháp luật Việt Nam cũng thừa nhận điều ước quốc tế là nguồn quan trọng, buộc các quy định phải được nội luật hóa hoặc áp dụng trực tiếp; hoặc các ý tưởng và quan điểm đạo đức xã hội; hợp đồng. Luật nước ngoài đều là những nguồn có ý nghĩa bổ sung cho nguồn luật chính.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Nguồn của pháp luật là gì? Các loại nguồn của pháp luật Việt Nam? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận