Người khuyết tật là gì? Như thế nào được gọi là người khuyết tật?

Khái niệm khuyết tật? Người khuyết tật là gì? Điều gì gây ra khuyết tật? Về các dạng và mức độ khuyết tật? Quyền của người khuyết tật theo quy định của pháp luật? Loại người nào được gọi là người khuyết tật?

Hiện nay, sau những chiến dịch kiên trì của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực quyền con người, nhận thức người khuyết tật cũng là chủ thể bình đẳng của quyền con người đã dần phổ biến trên thế giới. giới tính. Sự thay đổi trong nhận thức đã dẫn đến sự thay đổi trong cách gọi tên của nhóm xã hội này. Thay vì dùng từ “người khuyết tật“(người khuyết tật) mang hàm ý miệt thị, hạ thấp, nay nhóm xã hội này được gọi một cách chính xác và trân trọng là người khuyết tật. Cái tên mới, trong số những thứ khác, ngụ ý rõ ràng rằng đây là một nhóm người khuyết tật về thể chất hoặc tinh thần, nhưng họ không phải và không nên bị coi là những người vô dụng, bị gạt ra ngoài lề xã hội. chảy và là gánh nặng cho xã hội.

1. Người khuyết tật là gì?

Khái niệm người khuyết tật hiện đang là một khái niệm gây tranh cãi ở nhiều quốc gia và cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm người khuyết tật thống nhất áp dụng cho tất cả các quốc gia. Có sự khác biệt giữa các quốc gia về thái độ đối với khuyết tật, các quy định liên quan đến tình trạng và mức độ khuyết tật, cũng như cách sử dụng từ ngữ để mô tả khuyết tật.

Ví dụ:

Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có ba mức độ suy giảm: suy giảm, khuyết tật và khuyết tật. Khiếm khuyết đề cập đến sự mất mát hoặc bất thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý và/hoặc sinh lý. Khuyết tật đề cập đến việc giảm chức năng, là hậu quả của sự suy yếu. Khuyết tật là chỉ tình trạng thiệt thòi hoặc thiệt thòi của người khuyết tật do tác động của môi trường xung quanh đến khuyết tật của họ.

Theo Tổ chức Người khuyết tật Quốc tế, người khuyết tật trở thành tàn tật do không có cơ hội tham gia các hoạt động xã hội và không có cuộc sống như những thành viên khác. Như vậy, khuyết tật là một hiện tượng phức hợp, phản ánh sự tác động qua lại giữa các đặc điểm thể chất và các đặc điểm xã hội mà người khuyết tật đang sinh sống.

Ở Việt Nam khuyết tật và khuyết tật là hai từ để chỉ cùng một khái niệm, từ năm 2009 trở lại đây, chúng ta vẫn sử dụng song song hai từ này ở cả hai phía của thế giới. phương tiện truyền thông văn bản công khai, hợp pháp. Tuy nhiên, trong các pháp lệnh trước đây của Nhà nước Việt Nam, tàn tật là thuật ngữ chính thức được sử dụng. Tại Điều 1 – Pháp lệnh về người tàn tật 1998, người tàn tật được định nghĩa như sau: “Người tàn tật theo quy định của Pháp lệnh này không phân biệt do nguồn gốc khuyết tật, là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới các dạng tật khác nhau làm suy giảm khả năng hoạt động. , gây khó khăn cho công việc, sinh hoạt và học tập“.

Xem thêm bài viết hay:  Quy hoạch 1/500 là gì? Thời hạn quy hoạch 1/500 là bao lâu?

Đến năm 2010, Quốc hội Việt Nam chính thức sử dụng cụm từ “người khuyết tật” thay cho khuyết tật trong các luật liên quan. Thứ tựeo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật 2010 Có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011, người khuyết tật được quy định như sau:

“1. Người tàn tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật gây khó khăn trong lao động, sinh hoạt, học tập.

Người khuyết tật có những đặc điểm cơ bản như: Người khuyết tật là nhóm thiểu số lớn nhất trên thế giới và cũng là một trong những đối tượng dễ bị tổn thương nhất; Người khuyết tật có ở mọi nơi trên thế giới và các quốc gia có trách nhiệm bảo vệ người khuyết tật.

2. Nguyên nhân khuyết tật:

Các nguyên nhân dẫn đến tàn tật là: Bẩm sinh, bệnh tật, chiến tranh, sinh hoạt, tai nạn giao thông, tai nạn lao động. Nếu như ở thời kỳ trước, các nguyên nhân như bẩm sinh, bệnh tật, chiến tranh là nguyên nhân chính dẫn đến tàn tật. Trong những năm tới, các nguyên nhân như tai nạn giao thông, tai nạn lao động, ô nhiễm môi trường sẽ làm cho số người khuyết tật có xu hướng gia tăng.

xem thêm: Thủ tục cấp giấy chứng nhận khuyết tật và hỗ trợ kinh phí chăm sóc người khuyết tật

3. Về dạng và mức độ khuyết tật:

Tại Điều 3 Luật Người khuyết tật 2010 quy định về dạng và mức độ khuyết tật:

“đầu tiên. Các khuyết tật bao gồm:

a) Khuyết tật vận động;

b) Khuyết tật nghe, nói;

c) Khiếm thị;

đ) Khuyết tật thần kinh, tâm thần;

d) Thiểu năng trí tuệ;

e) Các khuyết tật khác.

xem thêm: Điều kiện hưởng trợ cấp xã hội đối với người khuyết tật

2. Người khuyết tật được phân chia theo mức độ khuyết tật như sau:

a) Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật mà không thể tự thực hiện các hoạt động hàng ngày của mình;

b) Người tàn tật nặng là người do khuyết tật mà không thể tự thực hiện một số công việc phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của mình;

c) Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này.

Nghị định 28/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật đã giải thích rõ ràng, chi tiết về dạng tật quy định tại Điều 2 và mức độ khuyết tật quy định tại Điều 3 Nghị định này. Cụ thể, theo Điều 2 Nghị định 28/2012/NĐ-CP:

– Khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng vận động đầu, cổ, chân, tay và thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, đi lại.

– Khuyết tật nghe, nói là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc vừa nghe vừa nói, phát âm không thành tiếng, rõ câu dẫn đến hạn chế trong giao tiếp bằng lời nói và trao đổi thông tin.

Suy giảm thị lực là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, vật thể trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường.

xem thêm: Mẫu đơn đề nghị xác định mức độ khuyết tật theo thông tư mới nhất

Xem thêm bài viết hay:  Chức danh là gì? Chức vụ là gì? Phân biệt chức danh và chức vụ?

– Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, khả năng kiểm soát hành vi, suy nghĩ và biểu hiện bằng lời nói, hành động không bình thường.

Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy, biểu hiện bằng sự chậm chạp hoặc không có khả năng suy nghĩ, phân tích các sự vật, hiện tượng và giải quyết vấn đề.

– Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất các chức năng của cơ thể gây khó khăn trong hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập không thuộc các trường hợp khuyết tật vận động; khuyết tật nghe và nói; khiếm thị; khuyết tật về thần kinh, tâm thần và trí tuệ.

Điều 3 Nghị định 28/2012/NĐ-CP quy định:

Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do bị khuyết tật làm mất hoàn toàn chức năng, không tự điều khiển được hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và các công việc khác cho mình. nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày cần có người theo dõi, giúp đỡ, chăm sóc.

Người tàn tật nặng là người do khuyết tật mà bị mất hoặc suy giảm một phần chức năng, không tự làm chủ hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và các công việc khác. Một số khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày cần người theo dõi, giúp đỡ, chăm sóc.

– Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc các trường hợp quy định trong người khuyết tật đặc biệt nặng và người khuyết tật nặng.

4. Quyền của người khuyết tật:

Người khuyết tật thuộc nhóm yếu thế và theo phân loại chủ thể quyền thì quyền của người khuyết tật nằm trong nhóm quyền của người khuyết tật. Nếu quyền cá nhân được hiểu là quyền thuộc về mỗi cá nhân, không phân biệt người đó là thành viên của một nhóm xã hội nào và việc thụ hưởng các quyền này là tùy thuộc vào ý chí của mỗi cá nhân, thì ngược lại, theo nghĩa rộng của nó, quyền nhóm được hiểu là quyền cá nhân. là những quyền cụ thể, chung của một tập thể, một nhóm xã hội nhất định mà để được hưởng những quyền này cần phải là thành viên của nhóm và đôi khi cần phải có sự cộng tác của các thành viên khác trong nhóm. Người khuyết tật cũng có các quyền cơ bản về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa.

xem thêm: Chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với người khuyết tật

Nếu hiểu quyền con người là những nhu cầu và lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật các nước và các hiệp định pháp lý quốc tế, thì khái niệm quyền của người khuyết tật có thể được hiểu như sau: Quyền của người khuyết tật khuyết tật bao gồm các quyền tự do cơ bản của con người, nhân phẩm, nhu cầu, sở thích và năng lực vốn có của con người – với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại và được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt với tư cách là một nhóm người đặc biệt dễ bị khuyết tật, được công nhận và bảo vệ bởi luật quốc tế và luật quốc gia.

Xem thêm bài viết hay:  Chi phí tài trợ là gì? Chi phí tài trợ giáo dục hạch toán như thế nào?

Điều 4 Luật Người khuyết tật 2010 quy định về quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật như sau:

Điều 4. Quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật

1. Người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau đây:

a) Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội;

b) Sống độc lập và hòa nhập cộng đồng;

c) Được miễn, giảm một số khoản đóng góp cho hoạt động xã hội;

d) Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận các công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và các dịch vụ khác phù hợp với dạng và mức độ khuyết tật;

xem thêm: Nguyên nhân và hậu quả của kỳ thị và phân biệt đối xử với người khuyết tật

đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Người khuyết tật thực hiện nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật“.

Như vậy, Luật Người khuyết tật 2010 đã quy định rõ thế nào là người khuyết tật và các vấn đề khác liên quan đến người khuyết tật.

5. Người như thế nào được gọi là người khuyết tật?

Tóm tắt câu hỏi:

Xin luật sư cho biết những người như thế nào thì được pháp luật gọi là người tàn tật?

Cơ sở pháp lý:

– Luật Người khuyết tật 2010;

– Nghị định 28/2018/NĐ – CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật.

xem thêm: Hồ sơ hưởng trợ cấp cho người khuyết tật

Nội dung tư vấn:

Thứ tựeo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật 2010 Có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011, người khuyết tật được quy định như sau: “1. Người tàn tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật gây khó khăn trong lao động, sinh hoạt, học tập.

Người khuyết tật có những đặc điểm cơ bản như: Người khuyết tật là nhóm thiểu số lớn nhất trên thế giới và cũng là một trong những đối tượng dễ bị tổn thương nhất; Người khuyết tật có ở mọi nơi trên thế giới và các quốc gia có trách nhiệm bảo vệ người khuyết tật.

Khuyết tật có thể là sự khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể của con người hoặc là sự suy giảm chức năng về nhận thức, khuyết tật biểu hiện ở nhiều dạng tật, dị dạng khác nhau làm cho cuộc sống của con người gặp nhiều khó khăn. sinh hoạt và cuộc sống của họ rất khó khăn.

Nói cách khác, khuyết tật có thể là khuyết tật rất lâu dài, không có cơ hội phục hồi về tinh thần, thể chất, trí tuệ, giác quan mà khi tương tác với xã hội họ gặp nhiều trở ngại, ảnh hưởng; gây bất lợi cho quá trình lao động và có thể chính những khiếm khuyết đó làm cho họ không thể sinh hoạt, làm những công việc như người bình thường.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Người khuyết tật là gì? Như thế nào được gọi là người khuyết tật? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận