Năng lực pháp luật là gì? Năng lực pháp luật của cá nhân và pháp nhân?

Năng lực pháp luật là gì? Đặc điểm của năng lực pháp luật là gì? Năng lực pháp luật của cá nhân? Năng lực pháp luật của pháp nhân?

Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được Nhà nước điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật. Nhà nước quy định cho chủ thể tham gia quan hệ pháp luật những năng lực nhất định gọi là năng lực pháp luật.

Tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua điện thoại:

1. Năng lực pháp luật là gì?

Năng lực pháp luật là khả năng của cá nhân, tổ chức có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, quyền ở đây là cách thức Nhà nước cho phép chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thực hiện, còn năng lực pháp luật là năng lực pháp luật. Công vụ là hành vi mà Nhà nước buộc chủ thể đó phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

Trong mỗi quan hệ pháp luật khác nhau thì quyền và nghĩa vụ của các chủ thể sẽ khác nhau tùy theo quy định của ngành luật điều chỉnh quan hệ đó, ví dụ: năng lực pháp luật dân sự, năng lực pháp luật hành chínhnăng lực pháp luật hình sự,… Tức là trong từng quan hệ pháp luật cụ thể, pháp luật quy định những chủ thể có năng lực pháp luật khác nhau.

Chủ thể của quan hệ pháp luật có thể là cá nhân hoặc pháp nhân.

2. Năng lực pháp luật có các đặc điểm sau đây:

Thứ nhất: Năng lực pháp luật là thuộc tính không thể tách rời của mỗi chủ thể.

Đối với cá nhân, năng lực pháp luật xuất hiện ngay khi cá nhân đó sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết. Chẳng hạn, mọi cá nhân sinh ra đều có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền về hình ảnh cá nhân,… Ngược lại, mọi cá nhân đều có nghĩa vụ tôn trọng quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể. xâm phạm thân thể, quyền đối với hình ảnh của người khác, v.v.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, năng lực pháp luật của cá nhân xuất hiện từ khi người đó còn trong bào thai (chẳng hạn như quyền thừa kế, quyền này được Nhà nước công nhận và bảo hộ nếu người đó sinh ra và vẫn có quyền thừa kế). trẻ em). cuộc sống); có các quyền cá nhân mà chỉ đến một độ tuổi nhất định mới có được (chẳng hạn như quyền của vợ/chồng, người giám hộ, v.v.). Cũng có những quyền chỉ có sau khi cá nhân chết (như: quyền tuyên bố là đã chết) hoặc còn lại sau khi cá nhân chết (như: quyền về đời sống riêng tư, quyền về hình ảnh…) .

Đối với tổ chức, năng lực pháp luật xuất hiện khi tổ chức đó được thành lập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định hoặc được Nhà nước thừa nhận. Năng lực pháp luật của tổ chức chấm dứt khi tổ chức đó bị giải thể, phá sản hoặc bị sáp nhập vào tổ chức khác. Ví dụ: quyền thừa kế, quyền đứng tên, quyền tài sản, v.v.

Thứ hai: Năng lực pháp luật không phải là thuộc tính tự nhiên mà do Nhà nước điều chỉnh trên cơ sở quy phạm pháp luật.

xem thêm: Chủ ngữ là gì? Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự?

Xem thêm bài viết hay:  Sao kê ngân hàng là gì? Khi nào cần phải sao kê ngân hàng?

Chỉ có những quyền và nghĩa vụ được Nhà nước thừa nhận hoặc được các tổ chức pháp luật quy định mới hình thành nên năng lực pháp luật của cá nhân, tổ chức. Chẳng hạn, các cá nhân trong quan hệ họ hàng có những quyền và nghĩa vụ nhất định với nhau, nhưng những quyền và nghĩa vụ đó không được Nhà nước quy định bằng quy phạm pháp luật nên những quyền và nghĩa vụ đó không thuộc thẩm quyền. luật cá nhân.

Thứ ba: Năng lực pháp luật của một người không được chuyển nhượng, không bị hạn chế, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Năng lực pháp luật chỉ là chủ thể tham gia quan hệ pháp luật có quyền và nghĩa vụ pháp lý mà không liên quan đến trách nhiệm khi chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ đó nên năng lực pháp luật của mọi cá nhân, tổ chức là như nhau về trình độ, độ tuổi. , trình độ văn hóa, khả năng nhận thức v.v… Chẳng hạn, người thiểu năng trí tuệ cũng có quyền thừa kế tài sản như người có khả năng nhận thức bình thường, dù là trẻ em hay người lớn đều có nghĩa vụ phải tuân theo pháp luật.

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân bắt đầu từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.

Theo đó, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có các quyền dân sự, nghĩa vụ dân sự mà mọi cá nhân đều bình đẳng, không ai bị hạn chế, phân biệt đối xử, kể cả khi họ khác nhau. sự khác biệt về giới tính, dân tộc, tôn giáo, độ tuổi, trình độ, nghề nghiệp,… Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi sinh ra, không thay đổi vì bất kỳ lý do gì, nó gắn liền với sự tồn tại của cá nhân và không tự biến mất , trừ trường hợp cá nhân đó chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Tuy nhiên, trường hợp Tòa án tuyên bố chết thì vẫn có thể khôi phục lại khi người bị tuyên bố trở về và yêu cầu Tòa án hủy quyết định tuyên bố chết.

Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân:

Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn liền với tài sản.

– Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản.

xem thêm: So sánh năng lực pháp luật dân sự của cá nhân và pháp nhân

Quyền tham gia quan hệ dân sự và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.

Theo đó, quyền nhân thân không gắn với tài sản có thể hiểu là quyền của mỗi cá nhân được có họ, tên, quyền được khai sinh khi sinh ra, quyền được khai tử khi chết, quyền được sống mà không ai có được. được phép vi phạm. đến tính mạng của người khác, trừ trường hợp pháp luật cho phép, quyền được hưởng tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, v.v.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự, quyền sở hữu bao gồm ba quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình. Quyền thừa kế, có thể hiểu là quyền của người có di sản, có quyền quyết định việc để lại tài sản cho ai cũng như được hưởng di sản thừa kế nếu được tặng cho theo di chúc hoặc chia theo di chúc. luật. Ngoài quyền sở hữu, quyền thừa kế, pháp luật còn ghi nhận cá nhân có các quyền khác đối với tài sản. Cá nhân khi thực hiện, xác lập quan hệ dân sự có quyền và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ phát sinh.

Xem thêm bài viết hay:  Sao Thổ nghịch hành là gì? 12 cung hoàng đạo cần lưu ý gì?

Ngoài ra, theo Điều 18 BLDS còn quy định: Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác., có nghĩa là năng lực pháp luật dân sự về nhân thân được quy định chung cho mọi chủ sở hữu là cá nhân thì cá nhân đó có và tự chịu trách nhiệm, không thể chuyển giao, không hạn chế, cũng như các chủ thể không thể thỏa thuận với nhau về giới hạn của mỗi chủ thể. quyền nhân thân của người khác. Đây chính là đặc điểm phân biệt giữa quyền nhân thân với các quyền khác.

Tuy nhiên, theo quy định của BLHS và BLHS, một cá nhân có thể bị hạn chế hoặc bị tước một số quyền công dân như bị cấm đảm nhiệm chức vụ, quyền hạn nhất định, bị cấm đi khỏi nơi cư trú, bị kiểm soát hành chính, hoặc chịu sự kiểm soát hành chính. hạn chế… nhưng chỉ phát sinh và quy định cụ thể đối với một cá nhân vi phạm hình sự hoặc vi phạm hành chính và việc hạn chế, tước này chỉ được thực hiện trong một thời gian cụ thể theo bản án, quyết định chứ không phải suốt đời khi hết thời hạn. năng lực pháp luật dân sự của cá nhân đó vẫn tiếp tục được thực hiện như các chủ thể khác và vẫn được pháp luật dân sự bảo vệ khi có chủ thể xâm phạm. xúc phạm.

4. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân:

Pháp nhân là một chủ thể đặc biệt tham gia vào các quan hệ xã hội. Để tham gia vào các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói riêng, pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ dân sự. Pháp nhân có năng lực pháp luật kể từ thời điểm phát sinh tư cách pháp nhân. Khác với năng lực pháp luật của cá nhân, năng lực pháp luật của pháp nhân do pháp luật quy định về nội dung, phù hợp với đặc điểm của từng loại pháp nhân, thậm chí của từng pháp nhân.

Đặc điểm năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân

Thứ nhất, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được Nhà nước ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật mà nội dung của nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội; thành hình thái kinh tế – xã hội trong một thời điểm lịch sử nhất định.

xem thêm: Sự khác nhau giữa năng lực chủ thể của cá nhân và năng lực chủ thể của tổ chức

Xem thêm bài viết hay:  Chứng thư số là gì? Phân biệt giữa chứng thư số và chữ ký số?

Thứ hai, mọi pháp nhân đều bình đẳng trong quan hệ pháp luật dân sự và có năng lực pháp luật dân sự như nhau. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế vì bất kỳ lý do gì. Mọi pháp nhân đều có khả năng như nhau để hưởng các quyền và chịu các nghĩa vụ như nhau.

Thứ ba, năng lực pháp luật của pháp nhân không thể bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định.

Thứ tư, Nhà nước tạo điều kiện bảo đảm năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được thực hiện thông qua các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội.

Nội dung năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân

Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là yếu tố cấu thành năng lực chủ thể của pháp nhân bên cạnh yếu tố năng lực hành vi dân sự của pháp nhân. Tương tự như quy định về cá nhân, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự.

Các quyền và nghĩa vụ thuộc năng lực hành vi của pháp nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Các quyền và nghĩa vụ này tồn tại dưới dạng “khả năng”, nếu pháp nhân muốn hiện thực hóa các quyền và nghĩa vụ đang ở dạng khả năng đó thì phải thông qua hành vi của pháp nhân trên thực tế.

Thời điểm bắt đầu có năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân

Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ về thời điểm pháp nhân bắt đầu có năng lực pháp luật dân sự như sau:

xem thêm: Năng lực pháp luật hành chính là gì? Kể từ khi?

  • Thời điểm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập;
  • Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập;
  • Đối với pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật của pháp nhân phát sinh kể từ thời điểm được ghi vào sổ.

Kể từ thời điểm phát sinh năng lực pháp luật dân sự, pháp nhân có quyền, nghĩa vụ dân sự có thể tham gia vào quan hệ dân sự nói chung và giao dịch dân sự nói riêng.

Thời điểm chấm dứt năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân

Khi pháp nhân bị giải thể, doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản thì pháp nhân không còn là chủ thể trong quan hệ pháp luật nên năng lực pháp luật của pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm pháp nhân chấm dứt hoạt động. .

Phần kết luận: Năng lực pháp luật dân sự là yếu tố quan trọng để xác định chủ thể trong giao dịch dân sự hay trong quan hệ dân sự. Năng lực pháp luật là khả năng của cá nhân, tổ chức có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, quyền ở đây là cách thức Nhà nước cho phép chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thực hiện, còn năng lực pháp luật là năng lực pháp luật. Công vụ là hành vi mà Nhà nước buộc chủ thể đó phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Năng lực pháp luật là gì? Năng lực pháp luật của cá nhân và pháp nhân? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận