Miễn chấp hành hình phạt là gì? Điều kiện được miễn chấp hành hình phạt?

Miễn hình phạt là gì? Điều kiện để được miễn chấp hành hình phạt? Miễn chấp hành hình phạt theo Điều 62 BLHS 2015?

Miễn chấp hành hình phạt áp dụng trong trường hợp người bị kết án đã có bản án có hiệu lực pháp luật mà chưa chấp hành hoặc chấp hành được một phần hình phạt. Vậy người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt trong những trường hợp nào?

Luật sư Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí Toàn quốc:

1. Miễn hình phạt là gì?

Miễn hình phạt là không buộc người bị kết án phải chấp hành toàn bộ hoặc phần còn lại (chưa chấp hành) hình phạt đã tuyên. Miễn chấp hành hình phạt khác với miễn trách nhiệm hình sự hay miễn hình phạt về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục áp dụng. Miễn trách nhiệm hình sự cơ quan công tố (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) áp dụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử khi có tình tiết phù hợp với quy định của pháp luật. Miễn hình phạt do Tòa án áp dụng trong thời gian thử thách; Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 (BLHS), đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm. trách nhiệm hình sự (Điều 92 BLHS). Miễn chấp hành hình phạt được áp dụng trong giai đoạn thi hành án hình sự khi có căn cứ theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, nhiều cán bộ tư pháp nhận thức chưa đúng về quy định này, chưa phân biệt đúng, đầy đủ giữa trường hợp “được” miễn chấp hành hình phạt và trường hợp “được” miễn chấp hành. hình phạt dẫn đến lúng túng khi áp dụng trong quá trình thi hành án hình sự.

2. Điều kiện được miễn chấp hành hình phạt:

Điều 62 Bộ Luật Hình Sự 2015 Quy định về miễn chấp hành hình phạt như sau:

Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi được đại xá hoặc đại xá

Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù, tù chung thân, nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trường hợp bị kết án tử hình. trường hợp đặc biệt (khoản 1 Điều 3 Luật Đặc xá 2007).

Tuy không có văn bản điều chỉnh cụ thể nhưng có thể hiểu đây là hình thức khoan hồng của Nhà nước do Quốc hội quyết định nhằm tha hoàn toàn, triệt để một số loại tội phạm cho hàng loạt người phạm tội. những sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước.

Xem thêm bài viết hay:  Công dân là gì? Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến pháp?

Người bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt nếu họ thuộc một trong các trường hợp sau: các loại sau: các trường hợp sau:

a) Sau khi bị kết án đã lập công;

xem thêm: Miễn hình phạt tù là gì? Điều kiện miễn chấp hành án phạt tù

Cống hiến là trường hợp người chấp hành án có thành tích xuất sắc trong lao động, học tập, công tác, chiến đấu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận (khoản 2 Điều 3). Thông tư liên tịch 09/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC)

b) Mắc bệnh hiểm nghèo;

Mắc bệnh hiểm nghèo là trường hợp người bị kết án mắc các bệnh nguy hiểm đến tính mạng, khó chữa khỏi như: ung thư giai đoạn cuối, xơ gan, xơ gan cổ trướng, lao độ 4 kháng thuốc, liệt. liệt, suy tim độ 3, suy thận độ 4 trở lên; HIV giai đoạn AIDS đang mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội không thể tự chăm sóc được và có nguy cơ tử vong cao (Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 09/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC)

c) Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn là nguy hiểm cho xã hội.

Người bị kết án không còn nguy hiểm cho xã hội là trường hợp người bị kết án đã hoàn lương, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, cần cù lao động, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, phong trào thi đua. của địa phương, tự nguyện thực hiện nghĩa vụ theo quyết định của bản án (khoản 6 Điều 3 Thông tư liên tịch số 09/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC)

Ví dụ: Anh A bị kết án 20 tháng tù về tội trộm cắp tài sản nhưng chưa thi hành án. Xét thấy hành vi trộm cắp của anh A là tự phát, do hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn: mẹ già yếu không có khả năng lao động, vợ bị bệnh tâm thần, anh A là lao động chính trong gia đình. Trong trường hợp này, anh A có thể được miễn chấp hành hình phạt.

Người bị kết án phạt tù trên 03 năm chưa chấp hành hình phạt nếu lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không còn nguy hiểm cho xã hội, theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Toà án có thể quyết định miễn toàn bộ hình phạt.

Lập công lớn là vụ án mà người bị kết án đã có hành vi giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, bắt giữ và điều tra tội phạm; cứu người khác trong tình trạng nguy hiểm hoặc cứu tài sản (có giá trị từ ba mươi triệu đồng trở lên) của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn; có phát minh, sáng chế, sáng kiến ​​có giá trị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận (Khoản 3 Điều 3 Thông tư liên tịch số 09/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC)

Xem thêm bài viết hay:  Ban cán sự Đảng là gì? Quy định về tổ chức và hoạt động?

xem thêm: Miễn chấp hành hình phạt tù

Ví dụ: Anh A bị kết án 04 năm tù về tội cố ý gây thương tích nhưng chưa chấp hành hình phạt. Trong thời gian chờ tuyên án, anh A đã cứu sống 02 bé trai bị lũ cuốn trôi. Trong trường hợp này, anh A có thể được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt do lập công lớn theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát.

Người bị phạt tù đến 03 năm đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nếu trong thời gian được hưởng án treo lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn mà xét thấy người đó vô tội. còn nguy hiểm cho xã hội thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại của anh ta.

Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành một phần hình phạt nhưng có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn trong thời gian dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, ốm đau mà không thể tiếp tục chấp hành hình phạt. Nếu họ chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

Ví dụ: Anh A bị phạt 50 triệu đồng về tội vu khống người khác. Anh A đã nộp 20 triệu, tuy nhiên nhà anh A bị lũ quét làm hư hỏng nặng, ruộng và gia súc chết ngập. Xét thấy tình hình kinh tế của ông A bị thiệt hại nặng nề, không có khả năng phục hồi thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại.

Người bị cấm cư trú, quản chế nếu đã chấp hành được một nửa thời hạn hình phạt và cải tạo tốt thì theo yêu cầu của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người đó chấp hành án, Tòa án. có thể quyết định miễn phần hình phạt còn lại.

Ví dụ: Anh A bị phạt 36 tháng tù treo về tội sử dụng trái phép chất ma túy. Anh A đã chấp hành 18 tháng thử thách, cải tạo tốt. Trong trường hợp này, anh A có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại nếu được Tòa án chấp thuận.

Xem thêm bài viết hay:  Quy trình bảo lãnh ngân hàng là gì? Hồ sơ đề nghị bảo lãnh ngân hàng?

Người được miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều này vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ dân sự đã được Toà án tuyên trong bản án.

Các trường hợp từ 1 đến 6 là các trường hợp người bị kết án được miễn, xét miễn chấp hành hình phạt. Tuy nhiên, việc miễn chấp hành hình phạt không có nghĩa là miễn trách nhiệm dân sự nếu có quy định tại bản án này hoặc đối với bản án khác nếu vụ án dân sự được tách thành vụ án riêng. Việc chấp hành hình phạt nêu trong BLHS là thể hiện chế tài của Nhà nước đối với người phạm tội nên Nhà nước có toàn quyền trong việc ban hành các chính sách, quy định nhằm miễn, giảm trách nhiệm. trách nhiệm hình sự, trách nhiệm chấp hành hình phạt của người phạm tội hay nói cách khác là việc thực hiện chính sách nhân đạo đối với tội phạm. Tức là coi trách nhiệm hình sự – trách nhiệm mà người phạm tội chỉ thực hiện với Nhà nước, còn trách nhiệm dân sự – trách nhiệm chỉ có thể thực hiện giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức với nhau. Vì vậy, bên có quyền chỉ được giảm hoặc miễn trừ khi và chỉ khi được sự đồng ý của bên có quyền và Nhà nước không can thiệp vào các quan hệ này. Vì vậy, khi bản án tuyên cả trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự đối với người bị kết án thì đương nhiên người bị kết án có quyền được miễn chấp hành hình phạt theo quy định của BLHS. miễn trách nhiệm dân sự của người đó.

xem thêm: Phân biệt miễn hình phạt, miễn hình phạt và miễn trách nhiệm hình sự

Sự kết luận: Miễn hình phạt là một chế định nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam. Việc thực hiện các quy định này nhằm tiết kiệm việc áp dụng các chế tài của BLHS nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu giáo dục người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc áp dụng đúng quy định này có ý nghĩa to lớn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đáp ứng mục tiêu đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Miễn chấp hành hình phạt là gì? Điều kiện được miễn chấp hành hình phạt? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận