Mẫu biên bản bắt người phạm tội quả tang mới nhất năm 2023

Phạm tội đang thực hiện là trường hợp tội phạm đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị bắt giữ. Trong trường hợp này, bất kỳ ai cũng có quyền bắt người phạm tội quả tang và giải đến cơ quan có thẩm quyền.

1. Biên bản bắt người phạm tội quả tang gồm những gì?

Biên bản giao người phạm tội đỏ là tài liệu ghi lại các sự kiện, thông tin nhân thân, các trường hợp phạm tội bừa bãi do cơ quan có thẩm quyền lập, là căn cứ quan trọng để chứng minh quá trình bắt giữ đúng pháp luật.

Biên bản bắt người phạm tội quả tang được dùng làm căn cứ chứng minh sự việc đã xảy ra, là tài liệu ghi lại những thông tin sơ bộ ban đầu, làm căn cứ để cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác minh, điều tra. , truy tố và xét xử.

2. Mẫu biên bản bắt người phạm tội quả tang:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

độc lập-Tự do-Hạnh phúc

BIÊN BẢN XÉT TỘI HÌNH SỰ

Vào hồi…..giờ…..ngày…..tháng…..tại….

Chúng tôi gồm có:

Ông/Bà:…..Chức vụ…..

Ông bà: ……

Ông bà: ……

Ông bà: …..

Căn cứ Điều 111, 133 Bộ luật tố tụng hình sự lập biên bản bắt người phạm tội quả tang(đầu tiên):

Họ và tên:…… Giới tính:

Tên khác: ……

Sinh ngày…… tháng……. năm ………… tại…

Quốc tịch: …….; Dân tộc: …..; Tôn giáo: ….

Nghề nghiệp: ……

Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu:……

cấp ngày……tháng…..năm…. Phát hành bởi:…

Nơi cư trú:…..

1. Tóm tắt sự việc, hành vi phạm tội tay đỏ và diễn biến quá trình truy bắt như sau(2):……

2. Lời khai của người phạm tội (Ghi số điện thoại mà họ đã sử dụng trước khi bị bắt):……

3. Lời khai của người bị hại (Lưu ý: ghi số điện thoại để liên hệ khi cần thiết):……

4. Lời khai của người làm chứng/người làm chứng (Lưu ý: ghi số điện thoại để liên hệ khi cần thiết): ….

5. Tài liệu, đồ vật bị thu giữ, tạm giữ (nếu có):……

6. Chấp hành của người bị bắt:……

7. Tình trạng sức khoẻ của người bị bắt(3):……

Việc bắt người phạm tội quả tang kết thúc hồi……giờ…………ngày……tháng……………….

Biên bản này đã được đọc cho những người có tên trên nghe, công nhận đúng và ký xác nhận bên dưới.

NGƯỜI ĐƯỢC GỌI

NẠN NHÂN

(Nếu có)

NHÂN CHỨNG

NGƯỜI TẠO KỶ LỤC

CHỨNG KIẾN

3. Hướng dẫn soạn thảo mẫu biên bản bắt người phạm tội quả tang:

(1) Trường hợp có nhiều người bị bắt quả tang thì ghi lần lượt danh tính từng người theo yêu cầu trên, sau đó ghi tóm tắt diễn biến, nội dung sự việc, lời khai của từng người bị bắt và lời khai của từng người. đồ vật, tài liệu thu giữ; nếu là đồ vật, tài liệu cần niêm phong thì phải niêm phong tại chỗ và lập biên bản.

Xem thêm bài viết hay:  Mẫu phiếu đăng ký dự tuyển lao động cho người nước ngoài mới nhất

(2) Nếu vụ việc có hiện trường thì phải bảo vệ hiện trường và tổ chức khám nghiệm hiện trường theo quy định của pháp luật.

(3) Sức khỏe bình thường hay bị thương tật, bệnh tật.

4. Các quy định về truy bắt người phạm tội trong BLHS từ năm 1968 đến nay:

4.1. Quy định của BLHS 2015 về Bắt người phạm tội quả tang:

Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định như sau:

“Thứ nhất. Đối với người đang phạm tội hoặc bị phát hiện, truy đuổi ngay sau khi phạm tội thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giao ngay người bị bắt cho cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và thả ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Khi bắt người phạm tội quả tang, mọi người có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.

3. Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn hoặc đồn Công an phát hiện, bắt giữ người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan. , lập biên bản bắt giữ, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; trả tự do ngay cho người bị bắt hoặc báo ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền.”

4.2. Những điểm khác nhau giữa các quy định về bắt người phạm tội quả tang trong BLHS từ năm 1968 đến nay:

Biện pháp bắt người phạm tội quả tang trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1988 đến nay đã có nhiều thay đổi, cụ thể:

Về căn cứ áp dụng, theo khoản 1 Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, có 3 trường hợp bắt người phạm tội quả tang, đó là người đang phạm tội bị phát hiện và bắt giữ; người phạm tội mà bị phát hiện, bắt giữ ngay; người đang phạm tội hoặc ngay sau khi phạm tội mà bị truy đuổi. Như vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã kế thừa hai trường hợp bắt người phạm tội về hành vi được quy định tại Nghị định số 02 là người phạm tội đang phạm tội hoặc bị phát hiện ngay sau khi phạm tội; bị truy đuổi sau khi phạm tội. Còn các trường hợp khác: bị tạm giữ nhưng lẩn trốn, có lệnh truy nã thì luật đã bãi bỏ.

Về thẩm quyền bắt người phạm tội mổ cướp nội tạng, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định ai cũng có quyền bắt và “khi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã thì ai có quyền tước vũ khí của người bị bắt”.

Xem thêm bài viết hay:  Mẫu đơn xin ly hôn tại Bình Phước [Ly hôn tại Bình Phước]

Về trình tự, thủ tục bắt, cũng theo khoản 1 Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự 1988, khi bắt người phạm tội quả tang không có lệnh, quyết định của cá nhân, cơ quan nào thì “giao ngay cho cơ quan công an nơi gần nhất. , Viện kiểm sát, Uỷ ban nhân dân các cơ quan này phải lập biên bản và chuyển ngay người bị bắt đến cơ quan điều tra có thẩm quyền.”

Ngoài ra, khoản 1 Điều 65 Bộ luật tố tụng hình sự 1988 cũng quy định cụ thể về việc thông báo bắt: “Người ra lệnh bắt phải báo cho gia đình người bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn biết. thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú, làm việc. Nếu thông báo cản trở việc điều tra thì sau khi không còn cản trở, người ra lệnh bắt phải thông báo vào ngày (Điều 67).

Rõ ràng, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã quy định chặt chẽ và đầy đủ hơn về các biện pháp bắt người phạm tội trên các phương diện: thẩm quyền, căn cứ áp dụng, trình tự, thủ tục và những vấn đề khác. phải làm ngay sau khi bắt giữ cũng như thông báo về việc bắt giữ.

Về căn cứ bắt, thẩm quyền bắt và trình tự, thủ tục bắt người phạm tội quả tang, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không thay đổi so với Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988.

Đối với thông báo bắt, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 chỉ quy định trách nhiệm thông báo thuộc về người ra lệnh bắt. Tuy nhiên, đối với việc bắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến cơ quan điều tra có thẩm quyền (khoản 1 Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự 1988). Rõ ràng, trong trường hợp này, cơ quan điều tra đã tiếp nhận người bị bắt không phải thông báo việc bắt. Điều này là phi logic và không hợp lý. Vì vậy, Điều 85 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 bổ sung quy định kể cả cơ quan điều tra nhận người bị bắt cũng có trách nhiệm thông báo việc bắt, cụ thể là “người ra lệnh bắt, cơ quan điều tra nhận người bị bắt”. buộc báo ngay cho gia đình người bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú, làm việc. Nếu thông báo cản trở việc điều tra thì sau khi không còn sự cản trở đó thì người ra lệnh bắt và Cơ quan điều tra đã nhận người bị bắt phải thông báo ngay.”

Xem thêm bài viết hay:  Mẫu hợp đồng đào tạo nghề makeup, phun săm, spa mới nhất

Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, việc bắt người phạm tội quả tang và bắt người bị truy nã được quy định chung trong một điều luật. Tuy nhiên, do tính chất của bắt người phạm tội quả tang khác với bắt người đang bị truy nã nên để đảm bảo sự rõ ràng, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã tách nội dung này thành hai điều luật riêng biệt. về bắt người phạm tội quả tang và truy bắt người phạm tội bị truy nã.

Về căn cứ bắt và thẩm quyền bắt người phạm tội quả tang, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 giữ nguyên như Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.

Về nội dung, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã bổ sung trách nhiệm, quyền hạn của Công an xã, phường, thị trấn, đồn Công an trong việc phát hiện, truy bắt, tiếp nhận người phạm tội quả tang để tạo cơ sở pháp lý cho các lực lượng này thực hiện nhiệm vụ. đáp ứng yêu cầu thực tiễn, cụ thể: “Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, đồn Công an phát hiện, bắt, tiếp nhận người phạm tội về hành vi, thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan thì lập biên bản bắt người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; trả tự do ngay cho người bị bắt hoặc báo ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền.”

Đối với những việc phải làm ngay khi bắt hoặc khi tiếp nhận người bị bắt nói chung và đối với tội đưa đỏ nói riêng, theo khoản 1 Điều 114 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, thời gian xem xét cũng đã được rút ngắn. . việc ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt từ 24 giờ đến 12 giờ, cụ thể: “Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người hoặc tiếp nhận người bị bắt, người bị tạm giữ, Cơ quan điều tra giao cơ quan điều tra tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 12 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt.

Chuyên mục: Biễu mẫu

Nhớ để nguồn bài viết: Mẫu biên bản bắt người phạm tội quả tang mới nhất năm 2023 của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận