Mất năng lực hành vi dân sự là gì? Quy định về người mất năng lực hành vi dân sự?

Mất năng lực hành vi dân sự là gì? Quy định về người mất năng lực hành vi dân sự? Người mất năng lực hành vi dân sự có người giám hộ đương nhiên không? Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại ?

Cá nhân là chủ thể đầu tiên tham gia vào các quan hệ xã hội. Trong các quan hệ xã hội do luật dân sự điều chỉnh, cá nhân là chủ thể chịu sự tác động trực tiếp, các chủ thể khác khi tham gia vào các quan hệ này cũng phải thông qua hoạt động của con người. Để tham gia vào các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ nhân thân nói riêng, cá nhân phải có đầy đủ tư cách chủ thể bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Nếu năng lực pháp luật có từ khi cá nhân sinh ra thì năng lực hành vi là do khả năng của cá nhân đó tạo ra nên trên thực tế cũng như pháp luật đã ghi nhận trong trường hợp này. “mất năng lực hành vi dân sự”.

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự 2015.

Luật sư tư vấn luật qua điện thoại Trực tuyến miễn phí:

1. Thế nào là mất năng lực hành vi dân sự?

Trước hết cần hiểu năng lực hành vi dân sự là gì? Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Nếu năng lực pháp luật dân sự là quyền tiền đề và quyền khách quan của chủ thể thì năng lực hành vi là khả năng do hoạt động của chính chủ thể tạo ra quyền và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. , năng lực hành vi dân sự còn bao hàm trọng trách khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ.

Việc xác định năng lực hành vi của các cá nhân là không giống nhau, các cá nhân khác nhau có những nhận thức khác nhau về hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện. Việc nhận thức và làm chủ hành vi của một cá nhân phụ thuộc vào ý chí và lý trí của cá nhân đó. Mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân được chia thành 3 mức độ: Năng lực hành vi đầy đủ; Năng lực hành vi một phần; Mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Vậy “mất năng lực hành vi dân sự” là gì?

Theo quan niệm thông thường, “mất” là từ dùng để chỉ sự vật, hiện tượng đang tồn tại nhưng sau đó không còn sự vật, hiện tượng đó nữa. Như vậy, có thể hiểu mất năng lực hành vi dân sự là việc cá nhân không có khả năng tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Một người được xác định là mất năng lực hành vi dân sự, đặc biệt là khi cá nhân đó chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết (mất năng lực hành vi dân sự khi năng lực hành vi dân sự chấm dứt). Tuy nhiên, một người trưởng thành có thể bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trong những điều kiện nhất định, với những quy trình và thủ tục nhất định.

Xem thêm bài viết hay:  Hợp đồng vô hiệu là gì? Đặc điểm, điều kiện và lấy ví dụ?

2. Quy định về người mất năng lực hành vi dân sự:

Theo quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự 2015 vấn đề này như sau:

“thứ nhất. Khi một người do mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

xem thêm: Năng lực hình sự là gì? Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Khi không còn căn cứ để tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người đó, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ hành vi dân sự. . hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

2. Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật của họ xác lập, thực hiện.”

– Từ quy định trên, căn cứ xác định một người mất năng lực hành vi dân sự phải đáp ứng các điều kiện sau:

Thứ nhất, người đó phải mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm suy giảm khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Thứ hai, phải có yêu cầu từ người có quyền và lợi ích liên quan với người đó hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan yêu cầu Tòa án tuyên bố người mắc bệnh nói trên là mất năng lực hành vi dân sự. Yêu cầu này được giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Thứ ba, căn cứ để tòa án ra quyết định là kết luận của tổ chức pháp y tâm thần về việc người bị yêu cầu đã mắc bệnh đến mức không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Tòa án tiến hành trưng cầu giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu của người yêu cầu, chi phí trưng cầu giám định do người yêu cầu chịu. Việc giám định phải được thực hiện bởi tổ chức có đủ năng lực là tổ chức pháp y tâm thần chứ không phải tổ chức khác như cơ sở y tế, phòng khám tư nhân để đảm bảo kết quả giám định là hoàn toàn chính xác. đảm bảo chính xác, khách quan.

Như vậy, không phải người nào mắc bệnh tâm thần và có dấu hiệu mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi cũng bị coi là người mất năng lực hành vi dân sự. Một người chỉ bị coi là mất năng lực hành vi dân sự khi bị Tòa án xác định và tuyên bố. Quy định về người mất năng lực hành vi dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tránh bị các chủ thể khác lợi dụng, lôi kéo ép buộc thực hiện các giao dịch vụ lợi. Cho cá nhân.

Xem thêm bài viết hay:  Chi phí vốn là gì? Chi phí vốn và chi phí vốn của chủ sở hữu?

3. Người mất năng lực hành vi dân sự có người giám hộ đương nhiên:

trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ; trong trường hợp cả cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một trong hai người mất năng lực hành vi dân sự mà người kia không đủ điều kiện giám hộ thì con cả là người giám hộ; nếu con cả không đủ điều kiện làm giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm giám hộ là người giám hộ; Trường hợp người đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự không có vợ, chồng, con hoặc có vợ, chồng, con không đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha hoặc mẹ của người đó là người giám hộ. Trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ; nếu có tranh chấp về người giám hộ thì Tòa án chỉ xác định.

xem thêm: Thế nào là hạn chế năng lực hành vi dân sự? Quy định về mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự ?

Quy định của pháp luật cũng như thực tế cho thấy, các giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi đều do người đại diện thực hiện, như:

Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người mất năng lực hành vi dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý theo quy định của Bộ luật Dân sự và luật khác. liên quan hoặc theo quyết định của Tòa án (khoản 2 Điều 25 BLDS 2015).

– Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ.

Việc mua bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho mượn, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và các giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám hộ. giám sát. (Khoản 1 Điều 59 BLDS 2015)

– Khi giao dịch dân sự do người mất năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu pháp luật về giao dịch có quy định. Việc này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong các trường hợp sau đây:

Xem thêm bài viết hay:  Thép titanium là gì? Đặc tính và ứng dụng của Thép titanium?

a) Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của họ;

b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ năng lực hành vi dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;

c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch công nhận có hiệu lực sau khi được khôi phục năng lực hành vi dân sự. (Điều 125, BLDS 2015)

xem thêm: Quy định về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

4. Thiệt hại do mất năng lực hành vi dân sự:

– Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; Nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường. (điều 586 BLDS 2015).

Người mất năng lực hành vi dân sự mà gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, pháp nhân khác quản lý trực tiếp thì bệnh viện, pháp nhân khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra. Trường học, bệnh viện và các pháp nhân khác không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi trong việc quản lý; trong trường hợp này cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường (Điều 599, BLDS 2015).

Như vậy, một người chỉ bị coi là mất năng lực hành vi dân sự nếu bị Tòa án tuyên bố và người này sẽ không thể tham gia hầu hết các giao dịch dân sự, trừ giao dịch phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày. ngày hoặc trong một số trường hợp khác. Họ có những quyền hạn chế trong cuộc sống như quyền tố tụng, quyền làm chứng cho di chúc, quyền trong giao dịch dân sự,… vì những quyền này có ảnh hưởng nhất định đối với bên kia của quan hệ dân sự. , nhưng bù lại, người mất năng lực sẽ có một số quyền đặc biệt như quyền được chăm sóc, được bảo đảm điều trị, quyền quản lý tài sản, quyền được đại diện,.. của người dám làm. để quyền và lợi ích hợp pháp của họ không bị xâm phạm.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Mất năng lực hành vi dân sự là gì? Quy định về người mất năng lực hành vi dân sự? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận