Mạng lưới sông ngòi nước ta có những đặc điểm gì? Địa lý 8

Tìm hiểu về mạng lưới sông ngòi nước ta? Nêu đặc điểm mạng lưới sông ngòi nước ta? Giá trị của mạng lưới sông ngòi nước ta? Vấn đề sông ngòi Việt Nam? Định hướng các biện pháp cải tạo và phát triển mạng lưới sông ngòi nước ta?

Việt Nam là một quốc gia ở Đông Nam Á, có đường biển dài và đặc điểm địa hình đặc biệt làm cho hệ thống sông ngòi của Việt Nam rất phong phú và đa dạng, dày đặc trên khắp cả nước. .

1. Tìm hiểu mạng lưới sông ngòi nước ta:

Sông là dòng chảy tương đối ổn định thường xuyên trên bề mặt các lục địa được nuôi dưỡng bằng nước mưa, nước ngầm, băng tuyết tan.

Thông thường một dòng sông có 5 phần với tính chất khác nhau: nguồn sông, thượng lưu, trung lưu, hạ lưu và cửa sông. Hệ thống sông bao gồm dòng chính, các phụ lưu và phụ lưu. Dòng chảy lớn nhất trong mỗi hệ thống sông được gọi là sông chính, là sông chính đổ trực tiếp ra biển hoặc hồ chứa.

Nước ta gồm 9 hệ thống sông lớn: hệ thống sông Kỳ Cùng – Bằng Giang, hệ thống sông Thái Bình, hệ thống sông Hồng, hệ thống sông Mã, hệ thống sông Lam (sông Cả), hệ thống sông Thu Bồn,… Hệ thống sông Ba (Đà sông Rạng), hệ thống sông Đồng Nai, hệ thống sông Cửu Long (sông Mekong), ngoài ra còn có các hệ thống sông nhỏ, rời rạc nằm dọc ven biển Quảng Ninh và miền Trung Việt Nam.

2. Đặc điểm mạng lưới sông ngòi nước ta:

2.1. Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc, lượng nước nhiều nhưng ít sông lớn:

Theo thống kê đến thời điểm hiện tại, Việt Nam có hơn 2.300 con sông dài trên 10km. Trong đó có tới 93% là sông ngắn và nhỏ. Còn các sông lớn như sông Cửu Long, sông Hồng chỉ có phần trung và hạ lưu chảy qua nước ta, tạo nên những đồng bằng châu thổ rộng lớn và vô cùng màu mỡ.

2.2. Lượng nước trên hệ thống sông ngòi nước ta thay đổi theo mùa:

Do khí hậu nước ta có hai mùa chính là mùa khô và mùa mưa phân hóa rõ rệt. Tuy nhiên, thời gian xuất hiện mùa mưa thường khác nhau giữa các vùng, miền và thường chậm dần từ Bắc vào Nam. Ví dụ, Tây Nguyên và Nam Bộ có mùa mưa trùng với mùa hè. Tháng nóng cực đại ở miền Bắc thường từ tháng VIII. Riêng các sông miền Trung xuất hiện nhiều đỉnh lũ nhỏ hơn, tập trung vào đầu mùa hè (tháng 5 đến tháng 6), mùa lũ rơi vào khoảng từ tháng 11 đến tháng 12. .

Sự khác biệt về lượng nước giữa hai mùa là rất rõ ràng. Trong mùa lũ, lượng nước sông chiếm 60-90% lượng dòng chảy cả năm, còn vào mùa cạn chỉ khoảng 20-30%. Tháng lũ cao điểm chiếm 25-30% lượng nước cả năm. Vào mùa khô, lưu lượng nước chỉ bằng 1-2% lưu lượng năm. Đôi khi các dòng sông thậm chí cạn kiệt nước và để lại đáy trơ trọi. Ngoài ra, chế độ nước sông thất thường, phụ thuộc vào sự thay đổi thất thường của thời tiết, khí hậu. Dòng chảy hai mùa chênh lệch rất lớn, ví dụ mùa lũ kéo dài từ 4-5 tháng, lượng nước lớn, mùa lũ có xu hướng chậm dần từ Bắc vào Nam, lũ sớm nhất vào Kỳ Cùng, Bằng Giang… rồi đến các sông ở Bắc Bộ, đến các sông ở Bắc Trung Bộ, rồi đến các sông ở Nam Trung Bộ do hoạt động của hội tụ nội nhiệt đới; Mùa kiệt kéo dài 7 tháng, lượng nước trên sông nhỏ, chiếm 20-30%, sông Đông Bắc thấp nhất vào tháng 2, sông đồng bằng Bắc Bộ tháng 3 và Bắc Trung Bộ tháng 4, đặc biệt là sông Hinh và sông. Thu Bồn thấp vào tháng 7-8. Ngoài ra, chênh lệch giữa tháng lớn nhất và tháng nhỏ nhất lớn: sông Hồng mùa lũ chênh lệch gấp bốn lần so với mùa kiệt, nước lên rất nhanh gây lũ đột ngột, sông Cửu Long chảy đều hơn nhưng chênh lệch lượng nước mùa lũ chênh lệch gấp 7 lần.

Xem thêm bài viết hay:  Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh chọn lọc siêu hay

2.3. Sông ngòi nước ta có nhiều phù sa:

Do đặc điểm địa hình nước ta là địa hình dốc, xói mòn mạnh nên hàm lượng phù sa rất lớn, trung bình khoảng 226 tấn/km2/năm. Trong đó, sông Hồng lớn nhất với 120 triệu tấn, tiếp theo là sông Cửu Long với 70 triệu tấn.

Sở dĩ sông ngòi nước ta giàu phù sa là do nhiều nơi độ che phủ rừng còn giảm mạnh.

2.4. Chảy theo 2 hướng Tây Bắc Đông Nam hoặc vòng cung

Dòng chảy của mạng lưới sông bắt nguồn từ địa hình Việt Nam phần lớn là đồi núi chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam nên các sông cũng chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, tiêu biểu là sông Hồng. , sông Thái Bình…

Tuy nhiên cũng có những sông chảy theo hướng vòng cung, các sông này chủ yếu ở phía Đông Bắc như sông Cầu, sông Lục Nam…

Và các con sông từ Tây sang Đông: sông Thu Bồn.

3. Giá trị mạng lưới sông ngòi nước ta:

Những dòng sông là nguồn sống của tổ tiên chúng ta từ xa xưa. Mang lại giá trị không hề nhỏ. Không chỉ trong quá khứ mà cả trong hiện tại, đặc điểm sông ngòi Việt Nam đều có giá trị to lớn.

Ví dụ, có giá trị về thủy điện, thủy lợi, nông nghiệp (phù sa) và ở một số phân khúc trung và hạ lưu còn phát triển giao thông. Ngoài ra, nó còn có giá trị về mặt du lịch, ngư nghiệp, v.v.

Sông ngòi còn có tác động đến đời sống sinh hoạt của con người như:

Nông nghiệp: bồi tụ phù sa thành đồng bằng

Ngành thủy sản: khai thác thủy, hải sản trên sông suối mang lại giá trị cao.

Xem thêm bài viết hay:  Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về bài thơ Gặp lá cơm nếp hay

Ngành công nghiệp: góp phần quan trọng vào sự phát triển ngành năng lượng nước ta (thủy điện).

Dịch vụ: Sông ngòi là tài nguyên du lịch tự nhiên có giá trị lớn, hàng loạt hệ thống giao thông đường thủy ra đời.

4. Vấn đề sông ngòi Việt Nam:

Các dòng sông của chúng ta đang bị ô nhiễm nghiêm trọng do những nguyên nhân sau:

– Tình trạng phá rừng, phá rừng diễn ra nghiêm trọng, nước mưa, bùn đất đổ xuống sông gây lũ lụt bất ngờ, dữ dội.

– Nước thải, chất thải từ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, sinh hoạt

– Vật chất ngập nước làm cản trở dòng chảy tự nhiên.

– Đánh cá bằng điện hóa.

– Liên hệ tại địa phương: về chăn nuôi lợn, nhiều hộ dân thường đổ trực tiếp phân, nước tiểu chưa qua xử lý ra sông, hồ gây ô nhiễm nguồn nước…

Và những điều trên bắt nguồn từ những hạn chế sau:

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn chồng chéo, nhiều bất cập; Thiếu cơ chế, chính sách cụ thể về môi trường từ trung ương đến địa phương

Kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 được ban hành, việc chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật cũng đã gây khó khăn trong việc thi hành Luật trên địa bàn thủ đô, cụ thể như sau: Về cơ bản: Hệ thống văn bản đã đáp ứng yêu cầu về môi trường. quản lý các dự án đầu tư mới cũng như các cơ sở đã đi vào hoạt động. Tuy nhiên, quá trình triển khai còn một số khó khăn, vướng mắc, khó áp dụng do văn bản chậm được sửa đổi, bổ sung; chưa phản ứng kịp thời với thực tế phát sinh ô nhiễm môi trường của đối tượng điều chỉnh; Sự bất cập giữa Luật Bảo vệ môi trường và Luật Đầu tư công 2014 trong quá trình xin chấp thuận chủ trương đầu tư làm cơ sở xác định thời điểm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư công theo quy định tại Khoản 1 Điều 19 của Luật Bảo vệ Môi trường; cũng như trách nhiệm thực hiện các cam kết nêu tại Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường khi triển khai thực hiện dự án khi có trường hợp đơn vị được giao nhiệm vụ lập đề xuất dự án đầu tư không phải là đơn vị được giao làm chủ đầu tư. trong giai đoạn thực hiện dự án; Hiện nay, Luật Thủ đô và Luật Bảo vệ môi trường nói chung chưa quy định cụ thể việc thực hiện cưỡng chế trong lĩnh vực môi trường dẫn đến quyết định xử phạt chưa đảm bảo tính nghiêm minh; Nhiều cơ chế chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường, nhất là cơ chế chính sách hỗ trợ di chuyển các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, không đúng quy hoạch ra khỏi địa bàn. nội thành còn thiếu và chậm ban hành.

Xem thêm bài viết hay:  Chức năng là gì? Phân biệt giữa chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn?

Công tác bảo vệ môi trường tại nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn.

Việc triển khai các dự án đầu tư xử lý ô nhiễm môi trường còn chậm, việc thu hút các dự án ngoài ngân sách đầu tư xử lý môi trường còn hạn chế.

mạng lưới quan trắc môi trường còn nhiều bất cập; Việc nâng cao kỹ năng cho cán bộ kỹ thuật xử lý dữ liệu quan trắc tự động chưa được quan tâm đúng mức.

Nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về môi trường, tài nguyên còn hạn chế; Tình trạng đổ phế thải không đúng nơi quy định, ảnh hưởng đến nguồn nước mặt vẫn còn, nhất là phế thải xây dựng.

Nhiều cơ sở công nghiệp, kinh doanh, dịch vụ chưa có ý thức chấp hành Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên nước, chưa đầu tư xây dựng công trình xử lý ô nhiễm mặc dù đã được cơ quan chuyên môn chấp thuận. đối tượng hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm.

Chi thường xuyên từ nguồn sự nghiệp hàng năm của thành phố tuy đạt tỷ lệ gần 4%/năm nhưng chủ yếu dành cho các hoạt động giữ gìn vệ sinh môi trường, duy tu hạ tầng đô thị. Việc hướng dẫn sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường còn chưa cụ thể dẫn đến việc sử dụng kinh phí ở một số huyện chưa đúng mục đích yêu cầu.

Bộ máy quản lý Nhà nước về môi trường nói chung, cán bộ quản lý môi trường từ thành phố đến quận, huyện, thị xã, phường xã, thị trấn còn thiếu, thậm chí kiêm nhiệm, chưa đáp ứng yêu cầu của Nhà nước. quy trình phân cấp quản lý. Nhiều khu, cụm công nghiệp, ban quản lý hoặc đơn vị quản lý hạ tầng, doanh nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh chưa thực sự quan tâm đầu tư cho công tác quản lý môi trường.

5. Định hướng giải pháp cải tạo và phát triển mạng lưới sông ngòi nước ta:

Để không làm mất đi nét đặc trưng của sông ngòi Việt Nam. Là người Việt Nam chúng ta đã, đang và sẽ ở trên mảnh đất này, vậy chúng ta cần phải làm gì và kêu gọi mọi người:

– Không đốt, chặt phá rừng bừa bãi

– Không vứt trực tiếp chất thải chưa qua xử lý vào nguồn nước

– Chất thải từ các đô thị lớn phải được xử lý, bao gồm nước thải sinh hoạt, nước thải từ các khu công nghiệp

– Cần chủ động phòng chống thiên tai lũ lụt

– Khai thác và sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn tài nguyên.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Mạng lưới sông ngòi nước ta có những đặc điểm gì? Địa lý 8 của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận