Luật là gì? Bộ luật là gì? Sự khác nhau giữa Luật và Bộ luật?

Luật pháp là gì? Cái mã là gì? Khái niệm Pháp luật và Bộ luật? Tổng quan về hệ thống pháp luật? Sự khác biệt giữa luật và quy tắc ứng xử là gì?

Có thể thấy, hệ thống pháp luật có nội dung rất rộng, bao gồm hệ thống pháp luật hiện hành và các nguồn luật khác đang tồn tại trên thực tế, trên cơ sở đó thực tế của pháp luật được hình thành. bảo đảm cho luật có hiệu lực. Nhìn chung, theo quan điểm này, hệ thống pháp luật là một khái niệm chung bao gồm hai mặt cụ thể: hệ thống cấu trúc của luật và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (hệ thống nguồn của luật). Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, Hiến pháp là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, ngay dưới đó là Luật và Bộ luật. Về cơ bản, hai khái niệm này là tương đương và không có quá nhiều khác biệt rõ ràng nên vẫn còn nhiều tranh cãi. Bài viết dưới đây sẽ đi sâu vào việc giải thích hai khái niệm này.

* Cơ sở pháp lý:

– Hiến pháp 2013;

– Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015.

1. Pháp luật là gì? Cái mã là gì?

Khái niệm “Pháp luật là gì?” Hiện tại, có khá nhiều xu hướng để xem xét. “Luật” thường được gọi với các nghĩa sau: là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của Nhà nước, là ngành luật, là khoa học pháp lý và là một ngành học.

Trong những bối cảnh nhất định, luật có thể được hiểu là luật chung. Ví dụ: khoa luật, đại học luật, sinh viên luật, tiến sĩ luật, nghề luật, luật sư, luật gia.

Bộ luật hay còn gọi là luật thường chỉ được hiểu theo một nghĩa là một dạng văn bản quy phạm pháp luật có mức độ hệ thống hóa cao nhất, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh luật. các quan hệ xã hội thuộc một hay nhiều lĩnh vực khác nhau. Ví dụ: Bộ luật Lao động, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự…

Như vậy, có thể thấy thuật ngữ “Luật” có nghĩa rộng hơn, bao hàm hơn so với thuật ngữ “Quy tắc” ở góc độ phân tích khái niệm như trên…

Tuy nhiên, khái niệm “Luật” nếu được định nghĩa là một loại văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành, theo một trình tự thủ tục nhất định, có hiệu lực pháp lý cao nhất, chỉ dưới Hiến pháp. Ví dụ: Luật tổ chức Quốc hội; Luật Tổ chức Chính phủ… Tất cả các văn bản quy phạm pháp luật khác do các cơ quan nhà nước khác ban hành đều là văn bản dưới luật.

Theo đó, quan điểm cá nhân của người viết cho rằng, nếu xét về quan niệm như vậy thì Bộ luật có phạm vi và đối tượng điều chỉnh rộng hơn so với Luật.

2. Tổng quan về hệ thống pháp luật:

Việc gọi tên hệ thống pháp luật có nhiều quan điểm khác nhau, một quan điểm cho rằng hệ thống pháp luật bao gồm hai bộ phận là công pháp và tư pháp, quan điểm khác cho rằng cần phân biệt hai khái niệm này. Khái niệm: Hệ thống pháp luật và hệ thống pháp luật thực sự và quan điểm chỉ có một khái niệm hệ thống pháp luật, không thể phân biệt rạch ròi hai khái niệm hệ thống pháp luật và hệ thống pháp luật thực sự. Như đã đề cập ở phần mở đầu, hệ thống pháp luật là một khái niệm rộng, bao gồm hai khía cạnh cụ thể: hệ thống cấu trúc của luật và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Xem thêm bài viết hay:  Vôn kế là gì? Cấu tạo, chức năng và nguyên lý hoạt động?

a) Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam bao gồm:

– Hiến pháp – Do Quốc hội ban hành, là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất.

– Luật hoặc Bộ luật – Được Quốc hội thông qua và được Chủ tịch nước ký ban hành. Có thể kể đến một số bộ luật như: Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật lao động, Bộ luật hàng hải.

– Nghị quyết của Quốc hội

– Văn bản dưới luật bao gồm:

+ Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Pháp lệnh, Nghị quyết

+ Chủ tịch nước: Lệnh, Quyết định

+ Chính phủ: Nghị định.

+ Thủ tướng: Quyết định

+ Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Nghị quyết

+ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Thông tư.

+ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Thông tư.

+ Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ: Thông tư

+ Tổng Kiểm toán Nhà nước: Quyết định

+ Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội.

+ Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.

+ Văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND. Gồm: HĐND: Nghị quyết; UBND: Quyết định.

b) Hệ thống kết cấu

– Ngành luật hiến pháp

– Ngành luật hành chính

– Ngành luật tài chính

– Ngành luật ngân hàng

– Luật đất đai

– Ngành luật dân sự

– Ngành luật lao động

– Ngành luật hình sự

– Luật Kinh doanh

Hiện nay, Việt Nam có một hệ thống pháp luật phức tạp nhất thế giới, đặc trưng bởi sự rườm rà, phức tạp khi có quá nhiều loại văn bản pháp luật được ban hành, nhưng lại có quá nhiều kẽ hở. còn kẽ hở, các quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu thống nhất với nhau gây cản trở, gánh nặng cho người dân, doanh nghiệp. Hệ thống pháp luật được đánh giá là thiếu tính thực tiễn và tính khả thi, thiếu minh bạch và không đi vào cuộc sống do thiếu suy nghĩ, tầm nhìn, phiến diện, thiếu công tâm và biểu hiện trong quá trình xây dựng pháp luật. lợi ích nhóm.

3. Phân biệt sự khác nhau giữa Luật và Bộ luật:

a) Giống nhau:

Bộ luật và luật là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành để cụ thể hóa Hiến pháp nhằm điều chỉnh các loại quan hệ xã hội trong các lĩnh vực hoạt động của xã hội. Các bộ luật, luật này đều có giá trị pháp lý cao (sau Hiến pháp) và có tác động rộng rãi đến đông đảo các tầng lớp nhân dân.

Xem thêm bài viết hay:  Nghị luận về lòng tự trọng (Các mẫu nghị luận xã hội hay nhất)

Vì vậy, khi xây dựng văn bản dưới luật phải căn cứ vào quy định thể hiện trong văn bản. Bộ luật và pháp luật không được trái với các quy định đó. Các bộ luật, luật được ban hành theo trình tự rất chặt chẽ gồm 6 giai đoạn:

– Xây dựng chương trình xây dựng pháp luật: Để thực hiện một công việc nào đó bao giờ chúng ta cũng phải có kế hoạch để thực hiện. Kế hoạch đó có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công việc, nếu kế hoạch cụ thể, thiết thực thì công việc sẽ thành công. Cũng giống như việc xây dựng đề cương cho một bài văn, việc soạn thảo chương trình xây dựng luật là một khâu quan trọng góp phần quyết định chất lượng, hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng. Chương trình xây dựng luật được hình thành trên cơ sở khoa học và pháp lý nhất định. Nội dung chương trình xây dựng luật gồm danh mục các văn bản sẽ ban hành; cơ quan soạn thảo; dự kiến ​​thời gian trình dự thảo văn bản và dành kinh phí cần thiết để thực hiện chương trình.

– Thành lập ban biên tập: Do tính chất phức tạp của công tác soạn thảo văn bản nên việc thành lập ban soạn thảo là một khâu cần thiết trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Ban soạn thảo có trách nhiệm bảo đảm chất lượng của dự thảo và hoàn thành dự thảo theo đúng kế hoạch; định kỳ báo cáo tiến độ thực hiện dự thảo với cơ quan, tổ chức trình dự thảo, kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền chỉ đạo khi phát sinh vấn đề mới thiếu định hướng hoặc vấn đề phức tạp. còn nhiều ý kiến ​​trái chiều, chuẩn bị hồ sơ trình cơ quan ban hành dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

– Biên tập viên: Đây là khâu quan trọng và bắt buộc nhất trong toàn bộ quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Trong giai đoạn soạn thảo lại, phải thực hiện một số bước nhỏ khác: khảo sát thực tế; xây dựng đề cương chi tiết dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; dự thảo văn bản và có thể tổ chức lấy ý kiến ​​về dự thảo.

– Chuyên môn: Thẩm định, thẩm tra dự thảo là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét toàn diện dự thảo trước khi trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

– Thông qua: Sau khi đã hoàn chỉnh dự thảo và có báo cáo thẩm tra, thẩm định, ban soạn thảo phải trình văn bản đối với dự thảo, sau đó gửi hồ sơ dự thảo đến cơ quan ban hành để xem xét, thông qua dự thảo.

– Công bố văn bản quy phạm pháp luật:

Sau khi văn bản quy phạm pháp luật được thông qua sẽ thông báo rộng rãi bằng các hình thức khác nhau để mọi người biết và thực hiện. Ngoài ra, sau khi văn bản được ban hành, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét, đánh giá tác động của văn bản. Như vậy, văn bản quy phạm pháp luật có thủ tục ban hành phức tạp hơn, nhiều giai đoạn hơn so với các văn bản quy phạm pháp luật khác.

Xem thêm bài viết hay:  Từ phức là gì? Cách tạo từ phức? Phân biệt với từ ghép?

Việc xây dựng, ban hành luật, bộ luật dựa trên các nguyên tắc chủ yếu sau đây:

– Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.

– Tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

– Bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung bí mật nhà nước; đảm bảo tính minh bạch trong các quy định của văn bản quy phạm pháp luật.

– Bảo đảm tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật.

– Không cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

b) Khác nhau

Tuy nhiên, cũng cần phân biệt giữa Bộ luật và Luật.

Pháp luật là những quy định của nhà nước, những quy tắc đạo đức tôn giáo hay những quy phạm tập quán địa phương dựa trên ý chí của giai cấp thống trị hoặc lợi ích của các tầng lớp xã hội cho phép hoặc cấm đoán một số hành vi liên quan đến quan hệ giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với tổ chức, giữa các tổ chức với nhau cũng như giữa các cá nhân với nhau. xử phạt các cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc vi phạm các quy định của pháp luật. đi ra ngoài.

Trong khi mã là một dạng luật, có một số điểm khác biệt như sau:

– Phạm vi điều chỉnh rộng hơn, rộng hơn so với một đạo luật nhất định

– Nội dung bao trùm và liên quan đến nhiều lĩnh vực trong xã hội

– Dẫn chiếu và điều chỉnh những vấn đề mà các luật (chuyên ngành) khác chưa quy định về nội dung.

– Điều chỉnh dẫn chiếu điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Ví dụ:

– Tranh chấp trong mua bán thương mại mà hai bên không thỏa thuận được (Điều chỉnh mặc định trong luật thương mại). Tòa án sẽ viện dẫn Bộ luật Dân sự để giải quyết tranh chấp;

– Tranh chấp về chia tài sản khi nam nữ chung sống như vợ chồng (nhưng không đăng ký kết hôn). Tòa án sẽ căn cứ giải quyết tranh chấp theo quy định của Bộ luật dân sự

– Trách nhiệm pháp lý (trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm kỷ luật…) khi vi phạm pháp luật nếu không được xử phạt tại Nghị định, Thông tư nào thì sẽ được dẫn chiếu và điều chỉnh trong Bộ luật Hình sự.

Như vậy, có thể thấy nhiều Luật sẽ điều chỉnh cùng một ngành luật, có Luật chỉ điều chỉnh một phần của nghề luật sư, còn Bộ luật điều chỉnh cả một ngành luật. Và Bộ luật sẽ điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng mang tính phổ biến hơn những quan hệ mà Luật điều chỉnh.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Luật là gì? Bộ luật là gì? Sự khác nhau giữa Luật và Bộ luật? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận