Kể lại đoạn trích Chị em Thúy Kiều bằng văn xuôi – Ngữ văn 9

Vài nét về tác giả Nguyễn Du? Giới thiệu đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”? Bài văn mẫu số 1 kể lại đoạn trích Chị em Thúy Kiều bằng văn xuôi? Bài văn mẫu số 2 kể lại đoạn trích Chị em Thúy Kiều bằng văn xuôi? Bài văn mẫu số 3 kể lại đoạn trích Chị em Thúy Kiều bằng văn xuôi?

Nguyễn Du là nhà thơ lớn của dân tộc, sáng tác của ông thể hiện thân phận khốn cùng của kiếp người, đặc biệt là những người phụ nữ bé nhỏ, bất hạnh, tài sắc vẹn toàn. “Truyện Kiều” là một kiệt tác của ông và của nền văn học Việt Nam. Tác phẩm kể về một nhân vật tài sắc vẹn toàn nhưng lại hi sinh vì chữ hiếu. Trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”, Nguyễn Du đã khắc họa chân thực và sinh động vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều.

1. Đôi nét về tác giả Nguyễn Du:

1.1. Mạng sống:

Nguyễn Du (1765 – 1820), tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên.

– Quê quán: làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

– Gia đình: Nguyễn Du sinh trưởng trong một đại gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống văn chương.

– Cha là Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), đỗ Nhị giáp tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng. Mẹ là bà Trần Thị Tần (1740 – 1778), là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm. Ông tên là Nguyễn Khản, làm Tham tường (ngang Tể tướng) từ thời Lê chúa Trịnh. Với truyền thống văn hóa gia đình đã tạo điều kiện cho Nguyễn Du tiếp thu văn hóa nhiều vùng miền, dùi mài kinh sử và am hiểu văn hóa văn chương bác học, tạo tiền đề cho sự tổng hòa của các tài năng. Mỹ thuật.

– Thuở nhỏ và niên thiếu, Nguyễn Du sống sung túc, xa hoa ở Thăng Long trong một gia đình phong kiến ​​quyền quý. Đây là điều kiện giúp ông hiểu biết về cuộc sống của giới quý tộc phong kiến.

– Năm 10 tuổi, Nguyễn Du mồ côi cha. Năm 13 tuổi, mẹ anh cũng qua đời. Cuộc đời gian nan, vất vả, trải qua cuộc đời mười mấy năm phiêu bạt đã tạo điều kiện cho Nguyễn Du có vốn sống hiện thực phong phú khiến ông phải suy ngẫm về xã hội và thân phận con người, tạo tiền đề cho cuộc đời của Nguyễn Du. đối với việc hình thành tài năng và bản lĩnh văn học.

– Từ năm 1802 đến năm 1820, ông làm quan nhà Nguyễn, đi kinh lược nhiều nơi, được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc, tạo điều kiện cho ông hiểu biết sâu sắc về văn hóa vùng miền, nền văn hóa bản địa và Hán văn, giúp ông mở rộng và nâng cao tầm khái quát về xã hội, con người

1.2. Sự nghiệp văn học:

công trình chính

Sáng tác chữ Hán: gồm 249 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du qua các thời kỳ. Gồm ba bài thơ:

xem thêm: Cảm nghĩ về bức tranh thiên nhiên đoạn trích Cảnh ngày xuân

– Thanh Hiên thi tập (78 bài), soạn ở Thái Bình, Tiên Điền.

– Nam Trung hỗn chiến (40 ca khúc), sáng tác khi làm quan ở Quảng Bình.

Xem thêm bài viết hay:  Trái phiếu Outright là gì? Quy định giao dịch outright trái phiếu?

– Bộc Hạnh Tạp Lục (131 bài), sáng tác khi đi hoằng pháp tại Trung Quốc.

Sáng tác bằng chữ Nôm:

– Trường Tân Thanh (Truyền Kiều).

– Văn tế cô hồn (Văn tế thập loại chúng sinh).

Đặc điểm nội dung và nghệ thuật:

Về các tính năng nội dung:

xem thêm: Giới thiệu về tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều

– Thể hiện tình cảm chân thành, tư tưởng nhân đạo, niềm cảm thông sâu sắc của Nguyễn Du đối với những kiếp người, đặc biệt là những con người bé nhỏ, bất hạnh, những người tài nữ mà éo le… đến thế là hết. Là kết quả của quá trình quan sát và suy nghĩ về cuộc đời và con người của tác giả.

– Vạch trần bản chất của chế độ phong kiến, lên án, tố cáo những thế lực đen tối trong xã hội phong kiến ​​chà đạp lên số phận con người.

Về đặc điểm nghệ thuật:

– Thành công ở nhiều thể thơ: cổ ngôn ngũ ngôn, ngũ ngôn luật, thất ngôn đường luật và ca, hành (nhạc phủ)…

– Thể thơ lục bát nhưng câu lục bát đạt đến đỉnh cao.

– Góp phần trau dồi ngôn ngữ văn học dân gian, làm phong phú ngôn ngữ tiếng Việt thông qua việc vận dụng điển cố, điển tích trong văn học Trung Quốc, đồng thời Việt hóa nhiều ngôn ngữ Trung Quốc.

2. Giới thiệu đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”:

Hoàn cảnh sáng tác

Truyện Kiều hay còn gọi là Đoạn trường tân thanh được Nguyễn Du sáng tác vào đầu thế kỷ 19 (khoảng 1805-1809). Được sáng tác dựa trên cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện” của Trung Quốc.

Thể loại: Thơ Nôm, gồm 3254 câu lục bát.

vị trí trích đoạn

Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” nằm ở phần đầu tác phẩm, giới thiệu về gia đình Thúy Kiều, khắc họa hai bức chân dung chị em Thúy Kiều và Thúy Vân.

Nội dung

Tác giả đã khắc họa vẻ đẹp và tài năng của hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân. Qua đó, tác giả cũng dự báo về một cuộc đời đầy mâu thuẫn và bất hạnh của Thúy Kiều.

Mỹ thuật:

Thể hiện lối viết miêu tả tinh tế, độc đáo của tác giả, kết hợp với việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa…

Ngôn ngữ được sử dụng tài tình, giàu sức biểu cảm đã góp phần tạo nên thành công cho đoạn trích.

3. Bài văn mẫu số 1 kể lại đoạn trích Chị em Thúy Kiều bằng văn xuôi:

Đề bài: Kể lại đoạn trích Chị em Thúy Kiều bằng văn xuôi.

Nhà họ Vương có hai cô con gái xinh đẹp tài giỏi, đều đang tuổi thanh xuân. Người chị tên Thúy Kiều, có vẻ đẹp sắc sảo, mặn mà. Người em tên là Thụy Vân, có vẻ đẹp phúc hậu, trang nghiêm. Hai chị em mỗi người một vẻ, với vẻ đẹp lý tưởng, hoàn hảo, hoàn hảo, hoàn hảo và hoàn hảo, tưởng như không còn gì có thể đẹp hơn.

Vào dịp Tết Thanh minh, chị em Kiều rủ nhau đi chơi xuân. Ngày xuân trôi qua thật nhanh đã là tháng ba. Tiết trời mùa xuân ấm áp, không còn cái nóng của mùa hè, không còn cái lạnh của mùa thu và mùa đông. Trên nền không gian ấy, một bức tranh cỏ non xanh tươi trở nên đẹp mắt. Màu xanh của bầu trời và màu xanh của cỏ cây cùng nhau tạo nên một bức tranh xuân đầy màu sắc.

Xem thêm bài viết hay:  Học sinh đánh nhau: Giáo viên và phụ huynh nên xử lý thế nào?

Màu trắng tinh khôi của những bông hoa lê, là màu trắng – sức sống của mùa xuân khiến người ta như thấy mầm sống đang trỗi dậy sau giấc ngủ đông dài. Màu trắng ấy tô điểm cho bức tranh mùa xuân thêm tinh khiết và trong trẻo, thiếu nó mùa xuân không còn mát mẻ, dịu dàng. Sự hòa quyện giữa hai màu xanh và trắng tạo nên một bức tranh mùa xuân như mở ra với chiều cao của bầu trời, chiều rộng của bãi cỏ xanh và được kéo sát vào cành hoa lê mới nở. Trước khung cảnh nên thơ ấy, lòng người hòa quyện với âm thanh du dương của mùa xuân, sức xuân thiên nhiên như khơi dậy sức xuân của lòng người.

Cùng với âm thanh của mùa xuân, hai chị em Thúy Kiều cũng hòa vào dòng người đi trẩy hội. Tiết Thanh Minh, mọi người đi đào mộ, sửa sang mồ mả cho người thân. Không khí đông vui, nhộn nhịp và náo nhiệt hơn khi đoàn người vào hội là những “tài tử giai nhân”, thanh niên nam nữ. Mọi người trong tiết trời xuân ấm áp cũng dành thời gian để tưởng nhớ, tri ân công đức của những người đã khuất. Đó là truyền thống tốt đẹp của ông cha ta từ xưa đến nay.

Mặt trời đang dần ngả về tây, hoàng hôn đang dần buông xuống khắp bầu trời. Hai chị em Thúy Kiều cùng nhau trở về nhà, với những bước chân chậm rãi, uyển chuyển, yểu điệu như còn luyến tiếc một điều gì trong ngày du xuân. Bầu không khí thật yên bình, thật yên bình và đượm một chút buồn man mác. Thúy Kiều thấy lòng mình xao xuyến, nguôi ngoai, chuyến du xuân này cùng Thúy Kiều mở lòng đón nhận những thanh âm trong trẻo của tình yêu, xao xuyến trong tình người…

4. Bài mẫu số 2 kể lại đoạn trích Chị em Thúy Kiều bằng văn xuôi:

Đề bài: Kể lại đoạn trích Chị em Thúy Kiều bằng văn xuôi.

Vị thiếu gia nhà họ Vương sinh được hai cô con gái đầu lòng xinh đẹp, tài giỏi. Người chị tên là Thúy Kiều, người em tên là Thúy Vân. Cả hai chị em đều có thân hình mảnh mai thanh tú như cây mai; tinh thần trong trắng như tuyết. Hai chị em Kiều mỗi người một vẻ đẹp riêng, không ai giống ai, đều có vẻ đẹp lí tưởng, vẹn toàn về chân dung và vẹn toàn về đức hạnh.

Thúy Vân là một người chị xinh đẹp với vẻ đẹp nhân hậu, trang trọng, vượt trội. Khuôn mặt cô đầy đặn, ngây thơ, sáng như trăng rằm; nét mày đậm và cong; miệng cười tươi như hoa; mái tóc đen óng ả, mượt mà hơn mây; làn da mịn màng trắng hơn tuyết; giọng trong như ngọc rừng.

Nhưng chị em Thúy Kiều còn đẹp hơn. Cô vừa có tài vừa có nhan sắc nổi bật hơn Vân, cô đẹp “sắc sảo mặn mà”. Đó là vẻ đẹp hấp dẫn, thu hút mạnh mẽ người khác. Cô có đôi mắt trong veo, xanh thẳm như làn nước mùa thu nhấp nhô. Đôi lông mày thanh tú của cô làm nổi bật vẻ đẹp của đôi mắt. Đôi mắt ấy là biểu hiện của sự sắc sảo của trí tuệ, sự mặn mà của tâm hồn. Vẻ đẹp ấy khiến hoa “ghen” vì kém sắc, liễu ghen vì kém xanh, vẻ đẹp ấy khiến bao người ngẩn ngơ, nghiêng nước nghiêng thành.

Xem thêm bài viết hay:  Phân tích bài thơ Ánh trăng của tác giả Nguyễn Duy siêu hay

Thúy Kiều là một người con gái tài sắc vẹn toàn với tứ năng: cầm, thi, thi, họa. Lĩnh vực nào cô ấy cũng hơn ai hết. Cô đã tự tay sáng tác ca khúc “Bạc phận” nói về một người có số phận éo le khiến ai nghe cũng xót xa, xót xa, rơi nước mắt.

Thành viên nhà họ Vương thuộc tầng lớp giàu có, khá giả. Hai cô gái trẻ họ Vương vẫn sống một cuộc sống thanh bình, lặng lẽ và nề nếp: “Rèm êm gấm che – Bên tường tấp nập ong bướm” dù mùa xuân sắp lấy chồng.

5. Bài mẫu số 3 kể lại đoạn trích Chị em Thúy Kiều bằng văn xuôi:

Đề bài: Kể lại đoạn trích Chị em Thúy Kiều bằng văn xuôi có sử dụng yếu tố miêu tả.

Ở một vùng ngoại ô của Bắc Kinh, có một gia đình họ Vương có ba người con. có hai con gái đầu và một con trai út. Cô chị tên Thúy Kiều, cô em tên Thúy Vân và cậu út tên Vương Quân. Gia đình họ thuộc tầng lớp trung lưu, khá giả.

Hai cô con gái đầu mỗi người một tính cách, một vẻ đẹp nhưng đều “mười phân vẹn mười”. Tinh hoa của hai chị em Kiều là tinh chất thanh tao của hoa mai, tinh hoa của hai chị em là tinh hoa tuyết nguyệt. Em gái Thụy Vân có vẻ đẹp quý phái, thùy mị hơn người: khuôn mặt đầy đặn, rạng rỡ như trăng, mày cong và dài như lá liễu; miệng cười tươi như hoa; giọng thanh tao như ngọc; Cùng với đó, tóc óng ả mượt mà, mây không mềm như tuyết, da không mịn như tuyết. Tuy nhiên, em gái Thúy Kiều còn đẹp hơn, sắc sảo và mặn mà hơn. Đôi lông mày của Kiều như dáng núi mùa xuân, đôi mắt nàng trong xanh như sóng nước mùa thu. Vẻ đẹp ấy cũng khiến hoa ghen vì thua nàng về sắc đẹp, và liễu cũng hờn ghen vì kém xanh hơn nàng. Nụ cười của Thúy Kiều khiến bao người ngẩn ngơ, có sức nghiêng nước nghiêng thành. Không những thế, Kiều còn rất thông minh, biết vẽ tranh, làm thơ hay và ngâm thơ dài. Lĩnh vực nào cô cũng giỏi, ngoài ra cô còn có nghệ thuật sáng tác ngũ âm, sử dụng đàn hạc rất điêu luyện, không ai theo kịp cô. Cô đã tự tay sáng tác ca khúc mang tên Bắc Mệnh – một ca khúc rất hay, mỗi khi cô hát lên ai cũng thấy thắt ruột, xót xa, xót xa và ứa nước mắt.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Kể lại đoạn trích Chị em Thúy Kiều bằng văn xuôi – Ngữ văn 9 của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận