Hình phạt bổ sung là gì? Hình phạt bổ sung theo Bộ luật hình sự?

Hình phạt bổ sung là gì? Hình phạt bổ sung? Quy định về hình phạt bổ sung theo quy định của BLHS 2015 ?

Theo pháp luật Việt Nam, hình phạt tiền là hình phạt nghiêm khắc nhất đối với người phạm tội. Hình phạt có hai loại là hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Theo đó, người phạm tội có thể bị phạt cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Tùy theo tính chất, mức độ, lĩnh vực, đối tượng vi phạm mà người phạm tội sẽ bị tuyên hình phạt chính và hình phạt bổ sung tương ứng.

Cơ sở pháp lý: BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017

1. Hình phạt bổ sung là gì?

Trước khi tìm hiểu hình phạt bổ sung là gì, tác giả sẽ giới thiệu với độc giả khái niệm hình phạt là gì?

Theo quy định của pháp luật hiện hành, hình phạt được hiểu là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước được quy định cụ thể đối với từng loại tội phạm được quy định trong BLHS. Hình phạt được áp dụng ở nước ta hiện nay khá đa dạng và được chia thành nhiều loại khác nhau như: xử phạt hành chính, buộc bồi thường thiệt hại, phạt chính, phạt bổ sung,… Theo quy định tại Điều 30 BLHS năm 2015 sửa đổi và bổ sung năm 2017 như sau:

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Toà án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. người đó, pháp nhân thương mại.”

Mục đích chính của việc áp dụng hình phạt tiền là để trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội, nhưng cũng nhằm giáo dục họ tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục mọi người, các pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Còn hình phạt bổ sung là một loại hình phạt cơ bản được quy định trong BLHS. Hình phạt bổ sung là hình phạt được áp dụng cùng với hình phạt chính đối với một số tội phạm nhằm tăng cường, tăng cường hiệu lực của hình phạt chính. Thông thường, đối với những tội phạm nghiêm trọng, gây hậu quả lớn cho xã hội, Hội đồng xét xử sẽ có hình phạt bổ sung đối với người phạm tội. Và nếu người bị kết án không phải chấp hành hình phạt chính thì Toà án không được áp dụng hình phạt chính bổ sung đối với người phạm tội.

Mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính, nhưng có thể bị áp dụng nhiều loại hình phạt bổ sung. Trong trường hợp một người bị kết án về nhiều tội thì hình phạt bổ sung về tội chỉ áp dụng đối với tội phạm đó, không áp dụng hình phạt bổ sung chung cho mọi tội phạm. Do chưa hiểu rõ nguyên tắc này trong thực tiễn nên một số Tòa án đã áp dụng hình phạt bổ sung chung đối với mọi tội phạm mà người bị kết án thực hiện.

Xem thêm bài viết hay:  Vì sao chúng ta phải kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc?

2. Hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 28 BLHS thì hình phạt bổ sung bao gồm: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; kiểm soát; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.

2.1. Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định:

Căn cứ quy định tại Điều 41 BLHS thì biện pháp cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được áp dụng khi xét thấy người bị kết án được đảm nhiệm chức vụ, hành vi, nghề nghiệp hoặc làm công việc nhất định. công việc như vậy có thể gây hại cho xã hội.

xem thêm: Hình phạt là gì? Mục đích, phân loại và căn cứ của hình phạt?

Thời hạn cấm là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án ̉̉an treo.

Ví dụ: A là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B nhưng đã nhiều lần có hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người dân và bị phạt tù 04 tháng, tại đồng thời bị cấm đảm nhiệm chức vụ 1 năm.

2.2. Cấm cư trú:

Cấm cư trú là biện pháp buộc người bị kết án phạt tù không được tạm trú hoặc thường trú ở địa phương nhất định. Chỉ lưu trú tại địa phương đang sinh sống, không di chuyển đến địa điểm khác trong thời gian dài.

Thời hạn cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

2.3. Kiểm soát:

Quản chế là buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn, sinh sống, cải tạo ở một địa phương nhất định dưới sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương đó. Trong thời gian thử thách, người bị kết án không được tự ý rời khỏi nơi cư trú, bị tước một số quyền công dân theo quy định tại Điều 44 BLHS như quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước. , quyền làm việc trong cơ quan nhà nước, quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân và không được hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với công việc liên quan đến hành vi phạm tội.

Xem thêm bài viết hay:  Đền Kim Liên ở đâu? Thờ ai? Kinh nghiệm đi lễ Đền Kim Liên?

Quản chế được áp dụng đối với người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, người phạm tội nguy hiểm nhiều lần hoặc trong những trường hợp khác do Bộ luật hình sự quy định.

Thời hạn quản chế từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong án phạt tù.

2.4. Tước một số quyền công dân:

– Công dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác thuộc trường hợp do Bộ luật hình sự quy định, thì bị tước một hoặc một số quyền công dân sau đây:

xem thêm: Nêu các loại hình phạt trong BLHS? Hình phạt cao nhất là gì?

+ Quyền ứng cử vào đại biểu các cơ quan quyền lực nhà nước như quyền bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp, đại biểu Quốc hội.

+ Quyền được làm việc trong các cơ quan nhà nước, quyền phục vụ trong các lực lượng vũ trang nhân dân như công an nhân dân, sĩ quan quân đội hoặc giữ các chức vụ, công việc trong bộ máy nhà nước.

  • Thời hạn tước một số quyền công dân là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.

2.5. Tịch thu tài sản:

Tịch thu tài sản là tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án để sung vào ngân sách nhà nước.

Tịch thu tài sản chỉ áp dụng đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm tham nhũng hoặc tội phạm khác. Các tội phạm khác do BLHS quy định như tội phản quốc, tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, tội gián điệp, tội mua bán trái phép chất ma túy, v.v.

Khi bị tịch thu toàn bộ tài sản, người bị kết án và gia đình vẫn có điều kiện sinh sống. Chỉ tịch thu tài sản liên quan đến tội phạm, nhưng trường hợp người này phải phụng dưỡng cha mẹ già thì có thể tịch thu một phần tài sản để bảo đảm thi hành án, tạo điều kiện cho gia đình người phạm tội có kinh phí trang trải. chi phí sinh hoạt và tiêu dùng. Đây là tính nhân đạo, nhân đạo của pháp luật nước ta.

Xem thêm bài viết hay:  An ninh phi truyền thống là gì? Quan niệm về an ninh phi truyền thống?

2.6. Tiền phạt:

Khi không áp dụng hình phạt tiền mà hình phạt chính là phạt tiền thì Tòa án có thể xem xét mức độ nguy hiểm cho xã hội mà quyết định áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Tức là người phạm tội không bị cơ quan nhà nước trừng phạt

Thứ bảy, trục xuất, khi không được áp dụng là hình phạt chính. Hình phạt này chỉ áp dụng đối với trường hợp người phạm tội là người nước ngoài bị Tòa án nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kết án buộc phải rời khỏi lãnh thổ nước ta. Và trong trường hợp Tòa án không áp dụng hình phạt chính là trục xuất khỏi lãnh thổ nước ta thì hình phạt trục xuất được coi là hình phạt bổ sung.

Thực tiễn cho thấy, hình phạt bổ sung có nhiều loại hình phạt nghiêm khắc khác nhau, có mục đích sử dụng khác nhau, có phương thức thực hiện khác nhau thì việc xử lý tội phạm càng chính xác, càng chính xác các tình tiết của tội phạm. hành vi phạm tội thì khi quyết định hình phạt càng xem xét đến yếu tố nhân thân của người phạm tội và do đó hiệu quả của hình phạt càng đạt được cao. Đa dạng hóa các hình phạt trong hệ thống hình phạt là điều kiện bảo đảm tính thống nhất trong thực tiễn xét xử của tòa án các cấp, bảo đảm xét xử bình đẳng, công bằng. Với nhiều loại hình phạt khác nhau được quy định thì khả năng cá nhân hóa và đảm bảo tính công bằng cao hơn.

Như vậy, việc quy định hình phạt bổ sung trong luật hình sự là rất quan trọng. Nó mở ra khả năng pháp lý giúp cá thể hóa hình phạt, đảm bảo sự hợp tác có chọn lọc với người bị kết án tùy theo tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của họ. Nói cách khác, hình phạt bổ sung tạo điều kiện cho Tòa án cá thể hóa hình phạt, lựa chọn biện pháp phù hợp để xử lý triệt để, công bằng đối với người bị kết án nhằm đạt được mục đích của hình phạt.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Hình phạt bổ sung là gì? Hình phạt bổ sung theo Bộ luật hình sự? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận