Hành vi phạm tội là gì? Phạm tội và tội phạm khác nhau thế nào?

Hành vi phạm tội là gì? Sự khác biệt giữa tội phạm và tội phạm là gì? Có phải tất cả các tội ác chống lại pháp luật?

Hành vi phạm tội là một trong những dấu hiệu quan trọng để xác định tội phạm, phân loại tội phạm theo bộ luật hình sự, căn cứ vào mức độ phạm tội khác nhau mà cơ quan có thẩm quyền có thể đưa ra các hình phạt. hình phạt thích đáng nhất.

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài Trực tuyến 24/7:

1. Phạm tội là gì?

Hành vi phạm tội là hành vi được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động, thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong bộ luật hình sự cụ thể theo từng loại tội phạm. hành vi trái với quy định của pháp luật, hành vi phạm tội bao gồm các dấu hiệu về mặt chủ thể, mặt chủ quan và mặt khách quan để cấu thành tội phạm.

Các dấu hiệu này được thể hiện như sau:

– Chủ thể của hành vi phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đáp ứng các dấu hiệu của từng loại tội phạm cụ thể.

– Về mặt chủ quan, hành vi này phải được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động gây hậu quả và nguy hiểm cho xã hội.

– Về mặt khách quan phải thể hiện qua hành vi phạm tội, cụ thể là lỗi cố ý hay lỗi vô ý. Những trường hợp lỗi không xác định thì không thể xác định là có tội, hoặc không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Phạm tội là việc cá nhân, pháp nhân có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi có tính chất nguy hiểm, gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội.

Thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc vô ý:

Cố ý phạm tội là việc chủ thể nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, biết hậu quả sẽ xảy ra và muốn hoặc không muốn nó xảy ra nhưng vẫn để hậu quả xảy ra. .

xem thêm: Ghi nhận hành vi phạm tội của pháp nhân trong BLHS

Cố ý phạm tội là người phạm tội có thể thấy trước hành vi của mình, hoặc không thấy trước hành vi của mình sẽ gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội và cho rằng hậu quả đó không xảy ra, không biết hậu quả đó. nó sẽ xảy ra, không thể ngăn chặn hậu quả xảy ra.

Phạm tội được xác định theo từng mức độ để làm căn cứ xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Cụ thể, như hành vi chưa đạt, hành vi chuẩn bị phạm tội, hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội hoàn thành đối với mỗi tội phạm thì khung hình phạt của tội phạm sẽ khác nhau.

Thế nào là tội phạm thì vẫn phải xác định tính chất của hành vi, mức độ nguy hiểm của hành vi đó ảnh hưởng đến xã hội để xác định các loại tội phạm và đưa ra khung hình phạt thích đáng. tội phạm ít nghiêm trọngtội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Xem thêm bài viết hay:  Thủ tục chuyển trường THPT, THCS cùng tỉnh và khác tỉnh

Các loại hành vi phạm tội được phân loại thành hành vi phạm tội hoặc không hành động:

Hành vi phạm tội do hành động của cá nhân, tổ chức thực hiện gây thiệt hại nghiêm trọng, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác, gây mất trật tự xã hội. Ví dụ như giết người, cướp của, hiếp dâm, truyền bệnh, v.v.

– Vi phạm của tôi thể hiện qua việc cá nhân, tổ chức không có những hành vi như làm ngơ, không tố giác tội phạm, không cứu người đang gặp nguy hiểm đến tính mạng… làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của mình. của người khác và xâm phạm lợi ích chung, gây mất trật tự an toàn xã hội vẫn bị coi là tội phạm.

Tuy nhiên, cần xác định hành vi có dấu hiệu tội phạm phải có tính chất nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả nghiêm trọng thì mới được xác định là hành vi phạm tội, đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm. .

2. Sự khác biệt giữa tội phạm và tội phạm là gì?

Không phải mọi hành vi “phạm tội” đều bị coi là “tội phạm”. “Tội phạm” và “Tội phạm” là hai khái niệm khác nhau nhưng khi sử dụng rất dễ gây nhầm lẫn. Vì vậy, cần phân biệt hai khái niệm này để sử dụng cho phù hợp.

xem thêm: Đặc điểm và các loại tội phạm có tổ chức phổ biến

Tội phạm:

Tội phạm bao gồm các yếu tố: mặt khách quan (hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, mặt chủ quan (lỗi của hành vi), khách thể (các quan hệ xã hội được BLHS quy định), chủ thể của hành vi (sự người thực hiện hành vi có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại có năng lực trách nhiệm hình sự).

Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS) quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự, pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập, quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các lĩnh vực khác của tổ chức trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo Bộ luật này thì phải bị xử lý hình sự.”

Từ định nghĩa trên, tội phạm có các đặc điểm sau:

1. Có tính chất nguy hiểm cho xã hội: tính chất nguy hiểm của hành vi được hiểu là hành vi đã gây ra hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. bảo vệ.

Xem thêm bài viết hay:  Bài thu hoạch phấn đấu trở thành Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam

2. Hành vi nguy hiểm cho xã hội phải được quy định trong Bộ luật hình sự;

3. Chủ thể nếu là cá nhân thì phải có năng lực trách nhiệm hình sự;

4. Lỗi: bao gồm lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý;

xem thêm: Tái phạm là gì? Phân biệt các tình tiết khác trong chế định nhiều tội phạm

5. Xâm phạm các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.

Xúc phạm:

Tội phạm là hành vi phạm tội. Có nghĩa là, phạm tội là hành vi có dấu hiệu của tội phạm phải được điều tra, truy tố, xét xử thì mới xác định được hành vi đó có phải là tội phạm hay không. Không phải mọi hành vi phạm tội là một tội ác. Ví dụ, khi chủ thể của hành vi phạm tội là người không có năng lực hình sự thì hành vi phạm tội không bị coi là tội phạm.

theo đó xúc phạm được hiểu là hành vi do một hoặc một số chủ thể thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, nguy hiểm cho xã hội đáp ứng các đặc điểm nêu trên của tội phạm.

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 8 của Bộ luật này cũng quy định: “Hành vi có dấu hiệu tội phạm nhưng nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và cần được xử lý bằng biện pháp khác.”

Do đó, không phải bất kỳ hành vi nào có dấu hiệu tội phạm cũng bị coi là tội phạm theo quy định trên.

Ví dụ: Hành vi đánh bạc bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị 5.000.000 đồng trở lên thì cấu thành tội đánh bạc. Còn dưới 5.000.000 đồng thì chỉ bị xử phạt hành chính. (Điều 321 – BLHS sửa đổi, bổ sung 2017).

Xét mức độ nguy hiểm cho xã hội và tính chất của xúc phạmĐiều 9 Bộ luật hình sự chia tội phạm thành các loại sau:

xem thêm: Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp phạm tội nhiều lần

– Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn nhưng mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội phạm đó là phạt tiền, cải tạo không giam giữ. hoặc phạt tù đến 03 năm;

– Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định là từ trên 03 năm đến 07 năm tù;

– Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;

Xem thêm bài viết hay:  Kinh tuyến là gì? Vĩ tuyến là gì? Phân biệt kinh tuyến và vĩ tuyến?

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định là trên 15 năm đến 20 năm. tù chung thân hoặc tử hình.

Việc phân loại tội phạm không chỉ là cơ sở để phân định trách nhiệm hình sự đối với từng trường hợp tội phạm cụ thể mà còn là cơ sở để xây dựng các khung hình phạt đối với từng tội phạm cụ thể trong Bộ luật này. với chính sách hình sự của nhà nước. Đây cũng là cơ sở pháp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng nhận thức đúng đắn và áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật này trong thực tiễn xét xử.

3. Mọi hành vi phạm tội có phải là bất hợp pháp không:

Mọi hành vi phạm tội đều trái pháp luật, vì hành vi vi phạm pháp luật là trái với quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến cá nhân, cơ quan, tổ chức, gây mất trật tự xã hội.

Mọi hành vi phạm tội đều trái pháp luật, tuy nhiên tùy vào tính chất nguy hiểm, mức độ nguy hiểm cho xã hội mà cơ quan chức năng có thể căn cứ để xem xét cấu thành tội phạm theo quy định của BLHS hoặc theo các phương pháp khác. xử lý khác như xử phạt hành chính, dân sự.

Tuy nhiên, hành vi phạm tội có thể trái pháp luật nhưng không phải hành vi trái pháp luật nào cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý như các trường hợp sau:

xem thêm: Trách nhiệm đối với người tự nguyện chấm dứt hành vi phạm tội

Chủ thể phạm tội hoặc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không có năng lực hành vi dân sự như người mắc bệnh tâm thần, mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi.

Người chưa thành niên là người chưa đủ 14 tuổi theo quy định của BLHS.

– Các trường hợp được miễn trách nhiệm, đã hết thời hiệu truy tố.

– Thực hiện hành vi trái pháp luật vì phòng vệ chính đáng.

– Thực hiện hành vi trái pháp luật trong tình thế cấp thiết.

– Có hành vi gây thiệt hại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của cơ quan nhà nước.

– Vi phạm do hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ có rủi ro.

Sự kết luận: Hành vi phạm tội là một trong những yếu tố cấu thành tội phạm. Việc phân định rõ thế nào là tội, thế nào là tội sẽ có ý nghĩa trong việc áp dụng các hình thức xử lý vi phạm trong thời gian tới.

xem thêm: Hiệu lực của BLHS đối với tội phạm ở nước ngoài

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Hành vi phạm tội là gì? Phạm tội và tội phạm khác nhau thế nào? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận