Đối tượng tác động của tội phạm là gì? Các loại đối tượng tác động của tội phạm?

Đối tượng mục tiêu của tội phạm là gì? Nhận xét về khách thể tác động của tội phạm? Các loại đối tượng tác động của tội phạm?

Khách thể tác động của tội phạm là một bộ phận cấu thành của khách thể của tội phạm, nhưng chỉ thông qua tác động của nó, tội phạm mới có thể xâm phạm các quan hệ xã hội được BLHS bảo vệ.

Trung tâm cuộc gọi Luật sư tư vấn pháp luật Trực tuyến 24/7:

1. Khách thể của tội phạm là gì?

Khách thể tác động của tội phạm là một bộ phận cấu thành của khách thể của tội phạm, nhưng chỉ thông qua sự tác động của nó, tội phạm mới có thể xâm phạm các quan hệ xã hội được BLHS bảo vệ.

Bản chất của quan niệm trên về khách thể tác động của tội phạm thể hiện hai mặt:

Thứ nhất: Về nội dung, khách thể tác động của tội phạm là cái mà thông qua tác động của mình, tội phạm trực tiếp gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội, là đối tượng bảo vệ của luật hình sự.

Thứ hai: Về mặt cấu trúc, khách thể tác động của tội phạm là một bộ phận của khách thể của tội phạm. Như vậy, khách thể của tội phạm phải bao gồm nhiều bộ phận, trong đó có một bộ phận là về khách thể tác động của tội phạm.

Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Như vậy, các yếu tố cấu thành khách thể của tội phạm cũng chính là các yếu tố cấu thành quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm.

Các thành phần của quan hệ xã hội là: Con người là chủ thể của quan hệ xã hội, vật chất là lợi ích mà chủ thể hướng tới là đối tượng của quan hệ xã hội và là quyền, nghĩa vụ. của chủ thể là nội dung của các quan hệ xã hội. Khách thể tác động của tội phạm có thể là một trong ba bộ phận trên của khách thể của tội phạm.

2. Nhận xét về khách thể của tội phạm:

Để gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội, người phạm tội phải tác động vào đối tượng bị thiệt hại. Căn cứ để xác định mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra phải căn cứ vào mức độ thay đổi trạng thái bình thường của đối tượng bị tác động.

– Quan hệ xã hội khách quan của tội phạm trong mọi trường hợp luôn bị thiệt hại hoặc bị đe dọa gây thiệt hại nếu tội phạm xảy ra.

xem thêm: Các yếu tố xã hội tác động đến việc thực hiện pháp luật

– Đối tượng tác động của tội phạm có thể ở trạng thái tốt hơn so với trạng thái ban đầu (nếu đối tượng tác động của tội phạm là vật thể).

Các loại khách thể bị tác động của tội phạm bao gồm: con người, khách thể vật chất và quyền & nghĩa vụ của chủ thể.

– Con người với tư cách là chủ thể của các quan hệ xã hội có thể là khách thể tác động của tội phạm. Ví dụ: giết người.

Con người vừa là thực thể tự nhiên, vừa là thực thể xã hội, là chủ thể của nhiều quan hệ xã hội, trong đó có những quan hệ xã hội chỉ có thể bị tổn thương khi có sự thay đổi trạng thái bình thường của cơ thể con người. bản thân con người – các mối quan hệ cá nhân. Như vậy, khách thể tác động của tội phạm có thể là người vì tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự. Chẳng hạn, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhân phẩm, danh dự… là đối tượng đại diện cho các đối tượng bị tác động của loại này.

Xem thêm bài viết hay:  Cơ quan tư pháp là gì? Hệ thống cơ quan tư pháp tại Việt Nam?

– Vật chất với ý nghĩa là khách thể của quan hệ xã hội có thể là đối tượng tác động của tội phạm. Ví dụ, tội phạm tài sản.

Trong các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, quan hệ xã hội bị tội phạm gây thiệt hại do làm thay đổi trạng thái bình thường của vật chất như quan hệ tài sản… Mọi hành vi làm trái pháp luật làm thay đổi trạng thái bình thường của tài sản đều là hành vi gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu. Như vậy, những vật như tài sản, phương tiện thuộc sở hữu hợp pháp của con người cũng có thể là đối tượng tác động của tội phạm.

Sự thay đổi trạng thái này có thể do các hành vi khác nhau gây ra như chiếm đoạt, chiếm đoạt, sử dụng, hủy hoại hoặc làm hư hỏng..

– Quyền và nghĩa vụ của chủ thể là nội dung của quan hệ xã hội có thể là khách thể của tội phạm. Ví dụ, tội xâm phạm hoạt động của cơ quan tư pháp, tội tham nhũng.

xem thêm: Yếu tố chính trị ảnh hưởng đến hoạt động thi hành pháp luật

Khách thể của quan hệ là khách thể, là biểu hiện cụ thể của quyền và lợi ích của các chủ thể. Tác động lên đối tượng của quan hệ là tác động lên sự vật cụ thể tồn tại trong thế giới khách quan. Chẳng hạn, quyền tài sản là đối tượng bị xâm phạm khi tác động đến các đối tượng thuộc loại này. Tác động vào đối tượng vật chất không phải lúc nào cũng gây ra hậu quả tiêu cực đối với vật chất đó mà có khi làm thay đổi tích cực. Chẳng hạn, hành vi trộm cắp tài sản, thông thường kẻ trộm không gây thiệt hại cho vật mà muốn làm tăng giá trị của vật đó.

Cần phân biệt đối tượng tác động với khái niệm công cụ, phương tiện phạm tội. Công cụ, phương tiện phạm tội là vật mà người phạm tội dùng để tác động vào người phạm tội và gây thiệt hại cho vật đó.

Khách thể tác động trong nhiều trường hợp là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm cơ bản. Chẳng hạn, tại Điều 85 BLHS, đối tượng bắt buộc là cơ sở vật chất – kỹ thuật… Trong trường hợp này, đối tượng tác động có ý nghĩa đối với việc định tội. Khi đó, khách thể bị tác động đóng vai trò là khách thể của tội phạm nhưng về bản chất, họ không phải là khách thể của tội phạm.

Hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội:

Luật hình sự không chỉ bảo vệ các quan hệ xã hội bằng việc bảo đảm tính quy phạm đối với con người với tư cách là chủ thể của quan hệ xã hội, đối với vật chất là khách thể của quan hệ xã hội mà cả những quan hệ xã hội nhất định, nó còn bảo vệ bằng việc bảo đảm hoạt động bình thường của chủ thể với ý nghĩa là nội dung của quan hệ xã hội đó. Trong những trường hợp này, hoạt động bình thường của chủ thể được coi là khách thể của tội phạm.

Xem thêm bài viết hay:  Mẫu phiếu dự giờ tiểu học và cách nhận xét tiết dạy dự giờ

Sự thay đổi trạng thái của đối tượng bị tác động ở đây là sự can thiệp vào hoạt động bình thường của chủ thể dưới hình thức làm sai lệch hành vi của người khác hoặc dưới hình thức làm sai lệch hành vi của chính họ. tôi. Ví dụ: Hành vi đưa hối lộ là hành vi làm sai lệch hành vi của người có chức vụ, quyền hạn.

4. Tội phạm là gì?

Khoản 1 Điều 8 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đưa ra khái niệm tội phạm như sau:

“thứ nhất. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực hình sự, pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền của đất nước, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm người khác lĩnh vực của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

2. Hành vi có dấu hiệu tội phạm nhưng nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.”

Các yếu tố cấu thành tội phạm

Cấu thành tội phạm cơ bản bao gồm 04 yếu tố sau: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể.

(i) Mặt khách quan của tội phạm:Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Dấu hiệu khách quan của tội phạm gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội: tính trái pháp luật của hành vi; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm; Ngoài ra còn có các dấu hiệu khác nhau như: phương tiện, công cụ, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm, tội phạm.
(ii) Mặt chủ quan của tội phạm:Mặt chủ quan của tội phạm là quá trình tâm lý bên trong của tội phạm, bao gồm: lỗi, mục đích và động cơ phạm tội. Bất kỳ tội phạm cụ thể nào cũng phải được thực hiện bằng hành vi phạm tội. Theo quy định của pháp luật có hai loại lỗi là tội cố ý và tội vô ý. Cố ý phạm tội là phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: (i) Người phạm tội nhận thức rõ về hành vi đó. nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra (lỗi cố ý trực tiếp); (ii) Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả có thể xảy ra của hành vi đó, mặc dù không muốn nhưng vẫn có ý thức để cho hậu quả xảy ra. lỗi gián tiếp).

Xem thêm bài viết hay:  Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gì? Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Vô ý phạm tội là phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: (i) Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc sẽ không xảy ra. có thể ngăn ngừa được (vô tình do quá tự tin); (ii) Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó (do vô ý do cẩu thả).

Động cơ phạm tội là cái thúc đẩy tội phạm thực hiện tội phạm để đạt được mục đích của mình.

(iii) Khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, bị tội phạm xâm phạm. Theo hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, các quan hệ đó là: quan hệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ chính trị, văn hóa, quốc phòng, an ninh,… trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân… các lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

(iv) Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội phạm là người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định của luật hình sự.

Trong đó, năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của người phạm tội. Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Theo đó, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội phạm, trừ trường hợp BLHS có quy định khác; Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287 , 289, 290, 299, 303 và 304 của BLHS.

Như vậy, một hành vi bị coi là tội phạm phải thỏa mãn đầy đủ 4 yếu tố trên. Khi đã bị coi là tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình theo quy định của pháp luật.

Sự kết luận: Khi xâm phạm một đối tượng bao giờ cũng tác động đến một đối tượng nhất định. Khách thể tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm mà khi tác động vào đó, người phạm tội gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho khách thể. Việc nắm bắt rõ tác động của tội phạm giúp xác định vị trí chủ thể trong lĩnh vực luật hình sự, giúp cho việc áp dụng pháp luật được chính xác.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Đối tượng tác động của tội phạm là gì? Các loại đối tượng tác động của tội phạm? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận