Diễn biến, kết quả và ý nghĩa Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là sự cộng hưởng sức mạnh của dân tộc và thời đại, là một trong những chiến công chói lọi, là kết quả của sự hội tụ nhiều yếu tố, trong đó có trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam. .

1. Nguyên nhân Chiến dịch Điện Biên Phủ:

Âm mưu của thực dân Pháp:

Điện Biên Phủ có vị trí chiến lược quan trọng – Điện Biên Phủ là một thung lũng rộng lớn ở phía Tây vùng núi Tây Bắc, có vị trí chiến lược trọng yếu ở Đông Dương và Đông Nam Á nên thực dân Pháp ra sức cố thủ.

Thực dân Pháp được đế quốc Mỹ giúp đỡ về kinh tế, quân sự và chuyên gia quân sự. Dựa vào viện trợ của Mỹ, Pháp xây dựng Điện Biên Phủ thành trung tâm của kế hoạch Nava, thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, gồm 49 cứ điểm, 16.200 lính, 12 tiểu đoàn, 7 đại đội bộ binh. bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội vận tải, 1 đại đội xe tăng M24, trong đó có một sân bay với phi đội thường trực 12 chiếc. Bảo vệ vùng Tây Bắc – Thượng Lào và bẻ gãy cuộc tiến công Đông Xuân của quân ta.

Thực dân Pháp khoác lác khẳng định Điện Biên Phủ là một “pháo đài khổng lồ bất khả xâm phạm”, “bất khả xâm phạm”.

Chính sách của Đảng:

Cuối tháng 9-1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đề ra chủ trương chiến lược cho hoạt động quân sự Đông Xuân 1953 – 1954:

– Dùng một bộ phận chủ lực mở các cuộc tiến công vào những hướng địch tương đối yếu, có nhiều sơ hở, đồng thời tranh thủ thời cơ tiêu diệt địch ở những hướng địch có thể luồn sâu vào vùng tự do của ta. Đồng thời, đẩy mạnh chiến tranh du kích trên tất cả các chiến trường sau lưng địch, tích cực làm mọi công tác chuẩn bị trong nhân dân và bộ đội địa phương, dân quân du kích ở vùng tự do để bộ đội chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ.

– Phương châm, nguyên tắc chỉ đạo tác chiến chiến lược là: tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, đánh chắc, tiến chắc.

Tổng quân số huy động 55.000 bộ đội chủ lực, hơn 100.000 dân công, 260.000 dân công, thanh niên xung phong và các lực lượng khác tham gia Chiến dịch, với tinh thần tập trung tất cả cho Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Quân và dân địa phương đã huy động 22.000 lượt xe đạp thồ, 11.800 chiếc thuyền, 1.800 khúc tre, 756 xe thô sơ, 914 ngựa thồ, xe trâu, đội xe ô tô 628 chiếc… vận chuyển được 30.759 tấn lương thực. lương thực, vũ khí, khí tài… phục vụ Chiến dịch.

Đầu tháng 3 năm 1954, công tác chuẩn bị của ta hoàn tất, ngày 13 tháng 3 năm 1954 quân ta nổ súng.

Xem thêm bài viết hay:  Cảm nhận về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải hay

2. Diễn biến Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954:

Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị họp, quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và thông qua kế hoạch tác chiến, thành lập Bộ Chỉ huy Chiến dịch, Đảng ủy Mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tổng Tham mưu trưởng. Bộ Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch.

Ngày 25-1-1954, các đơn vị bộ đội ta vào vị trí tập kết, sẵn sàng nổ súng theo chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh”. Trong quá trình đó, nhận thấy địch đã củng cố lực lượng phòng ngự vững chắc, Bộ chỉ huy và Đảng ủy chiến dịch đã có quyết định đúng đắn: giữ vững quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh”. đánh nhanh, thắng nhanh” thành “đánh chắc, tiến chắc”.

Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra trong 3 giai đoạn:

Đợt 1: Từ ngày 13 đến ngày 17-3-1954: Quân ta dũng cảm, mưu trí tiêu diệt cứ điểm Him Lam, Độc Lập, bức ép phòng tuyến Bản Kéo, phá cửa ngõ phía Bắc của tập đoàn quân này. điểm Điện Biên Phủ; tiêu diệt và bắt sống hơn 2.000 quân địch, tiêu diệt 01 trung đoàn, phá hủy 25 máy bay, uy hiếp sân bay Mường Thanh; Chỉ huy pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ – Đại tá Pirot bất lực trước pháo binh của ta nên đã dùng lựu đạn tự sát.

Đợt 2: Từ ngày 30-3 đến ngày 30-4-1954: Quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía đông của phân khu trung tâm, siết chặt thế bao vây, chia cắt và liên tục tiến công, làm chủ sân bay Mường Thanh. , hạn chế viện binh địch đến các tập đoàn cứ điểm. Để kéo dài thời gian, địch rất ngoan cố. Tướng Nava hy vọng đến mùa mưa ta phải phá vòng vây. Đây là cuộc tiến công dai dẳng nhất, ác liệt nhất, lâu dài nhất và khó khăn nhất, ta và địch đánh nhau từng đoạn giao thông hào, từng tấc đất. Trong đó, ở đồi C1 quân ta và quân Pháp giằng co 20 ngày, ở đồi A1 giằng co 30 ngày. Sau đợt tiến công thứ hai, khu trung tâm Điện Biên Phủ đã lọt vào tầm súng của quân ta, địch rơi vào thế bị động, tinh thần chiến đấu sa sút rõ rệt.

Đợt 3: Từ ngày 1-5 đến ngày 7-5-1954: Quân ta chiếm cứ điểm phía đông và mở cuộc tổng tiến công tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đêm 6-5-1954, tại đồi A1, trận chiến đấu giữa quân ta và địch diễn ra hết sức ác liệt, quân ta xông lên phá đồn bót và dùng thuốc nổ phá ngầm. Chỉ huy đồi A1 và khoảng 400 tên địch còn sống sót đã phải đầu hàng. 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954, quân ta chiếm Sở chỉ huy địch, tướng Đờ Cát cùng toàn bộ Bộ tham mưu và chiến sĩ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải đầu hàng. Lá cờ “quyết chiến, quyết thắng” của quân ta tung bay phấp phới trên nóc hầm chỉ huy của địch. Và ngay trong đêm đó, quân ta tiếp tục tấn công vào phân khu Nam, đánh cho địch tháo chạy sang Thượng Lào. Đến 24 giờ, toàn bộ quân địch bị quân ta bắt gọn.

Xem thêm bài viết hay:  Viết một đoạn văn về tình cảm của em dành cho thầy cô giáo

3. Kết quả Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954:

Sau 56 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, thông qua các phương châm tác chiến phù hợp, quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tập đoàn cứ điểm của thực dân Pháp. được xưng tụng là “pháo đài khổng lồ bất khả xâm phạm” và “bất khả xâm phạm”.

Kết quả tướng De Castries bị bắt sống, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên địch, bắn rơi 62 máy bay, thu giữ 64 ô tô và tịch thu toàn bộ vũ khí, khí tài, quân dụng của địch. Giải phóng các khu vực rộng lớn. Đã giáng một đòn mạnh, quyết đoán, đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava của Pháp.

4. Nguyên nhân thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954:

– Sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình và đường lối sáng tạo đúng đắn của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

– Tinh thần yêu nước nồng nàn và nghệ thuật quân sự truyền thống Việt Nam được kế thừa và phát triển lên tầm cao mới dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Tình đoàn kết anh em, liên minh đánh giặc giữa ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương: Việt Nam – Lào – Campuchia.

– Sự giúp đỡ quan trọng của các nước xã hội chủ nghĩa mà đại diện là Trung Quốc và Liên Xô, cùng sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp.

Điều quan trọng nhất là từ tình yêu quê hương đất nước, khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của mỗi người dân đất Việt.

5. Ý nghĩa lịch sử của Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954:

– Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ chứng tỏ sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng một đòn mạnh mẽ, quyết đoán, đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava của Pháp. Cuộc kháng chiến đã chấm dứt hoàn toàn ách đô hộ của thực dân Pháp trên đất nước ta và các nước trên bán đảo Đông Dương.

– Bảo vệ và phát huy thành quả Cách mạng Tháng Tám năm 1945; mở ra giai đoạn cách mạng mới, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Xem thêm bài viết hay:  Ủy thác cho vay là gì? Ủy thác và nhận ủy thác cho vay?

– Làm xoay chuyển cục diện chiến tranh Đông Dương, giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp.

Chiến dịch Điện Biên Phủ là trận “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, trực tiếp đưa Pháp ngồi vào bàn đàm phán, ký kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. tạo điều kiện để nhân dân ta giải phóng một nửa đất nước, đưa miền Bắc tiếp tục tiến lên chủ nghĩa xã hội.

– Khẳng định sự giúp đỡ to lớn về vật chất và tinh thần của bạn bè quốc tế và các nước xã hội chủ nghĩa mà đại diện là Liên Xô và Trung Quốc.

Chiến thắng Điện Biên Phủ có đóng góp to lớn vào phong trào đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại.

6. Bài học kinh nghiệm của Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954:

– Giữ vững và tăng cường phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, trên cơ sở đường lối, chủ trương đúng đắn, kịp thời nắm bắt thời cơ, biết nắm bắt thời cơ, định hướng chiến lược sắc bén, nhạy bén nhằm tập trung cao độ sức mạnh cả nước để giành thắng lợi quyết định.

– Thực hiện tốt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, biết dựa vào dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân.

– Phát huy thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, không ngừng xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng vững mạnh, nhất là bộ đội chủ lực để sẵn sàng thực hiện tốt, nhất là các nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ cao. những trận áp bức, quyết định.

– Không ngừng chăm lo củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy liên minh giai cấp công nhân – nông dân làm gốc, tích cực đấu tranh vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc và độc lập dân tộc. chủ nghĩa xã hội.

– Xây dựng tinh thần đoàn kết quốc tế trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, tất cả vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

=> Những bài học quý báu đó vẫn còn nguyên giá trị và được Đảng, Nhà nước ta không ngừng chắt lọc, vận dụng sáng tạo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Diễn biến, kết quả và ý nghĩa Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận