Công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lý là gì? Cho ví dụ?

Quyền công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lý là gì? Lịch sử hình thành nguyên tắc công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lý? Quy tắc Trách nhiệm Công dân Bình đẳng là gì? Ý nghĩa của quy tắc công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lý là gì? Các biện pháp hiệu quả để thúc đẩy bình đẳng trước pháp luật?

Quyền công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lý là một trong những quyền cơ bản của công dân được Nhà nước ghi nhận. Hãy cùng tham khảo bài viết dưới đây để hiểu rõ hơn về quyền bình đẳng trách nhiệm pháp lý của công dân.

1. Thế nào là quyền công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lý?

Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, tức là mọi người đều được hưởng các quyền do pháp luật quy định và chịu các nghĩa vụ pháp lý một cách bình đẳng, không ai được hưởng đặc quyền ngoài pháp luật. Nguyên tắc này có ý nghĩa lịch sử quan trọng và tiến bộ để giai cấp tư sản tiến tới tiêu diệt đặc quyền phong kiến. Tuy nhiên, do chế độ tư hữu, con người không bình đẳng trong đời sống kinh tế và chính trị, các đặc quyền tư bản chủ nghĩa nên nguyên tắc này không thể thực hiện được trong một xã hội tư bản chủ nghĩa. . Chỉ trong hệ thống chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc này mới thực sự được thực hiện với tư cách là công dân bình đẳng trước pháp luật.

2. Lịch sử hình thành nguyên tắc công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lý:

Khẩu hiệu “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” lần đầu tiên được giai cấp tư sản nêu ra trong cuộc đấu tranh chống phong kiến. Như chúng ta đã biết, pháp luật phong kiến ​​công khai duy trì thứ bậc và đặc quyền, nó không chỉ cho phép địa chủ chủ quan được hưởng những đặc quyền phong kiến ​​khác nhau tùy theo số ruộng đất, quan lớn nhỏ và chức tước, mà còn làm cho địa chủ quan liêu và quan liêu. người thân trong hoàng tộc không bị pháp luật ràng buộc. Ngoài ra, với tư cách là người thống trị tối cao của xã hội phong kiến, nhà vua có thể đứng trên pháp luật. Trong cuộc đấu tranh chống chế độ chuyên chế phong kiến, giai cấp tư sản đưa ra khẩu hiệu “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” và đòi xóa bỏ mọi thứ bậc, mọi đặc quyền, địa vị, có thể nói đây là một tiến bộ vượt bậc, góp phần quan trọng vào lật đổ chế độ phong kiến ​​và chế độ toàn trị.

Sau khi cách mạng tư sản thành công, “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” được xác lập như một nguyên tắc quan trọng của nền dân chủ tư sản và hệ thống pháp luật, được khẳng định dưới hình thức hiến pháp. Quy định này thường được đưa vào các hiến pháp hoặc văn bản hiến pháp của các nước tư sản. Tuy nhiên, vì sự cai trị của giai cấp tư sản dựa trên quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, hệ thống dân chủ và hệ thống pháp luật mà nó thiết lập dựa trên quyền sở hữu bất bình đẳng, nên sự bình đẳng về mặt pháp lý mà nó thúc đẩy đã che giấu sự bất bình đẳng thực sự tồn tại giữa con người với nhau trong cuộc sống thực. Tóm lại, ở một nước tư bản do giai cấp tư sản thống trị, nhân dân lao động không thể thực sự được hưởng những quyền như giai cấp tư sản. Vì vậy, cái gọi là “mọi người bình đẳng trước pháp luật” không thể thực hiện được. Như Mác đã chỉ ra, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của giai cấp tư sản chỉ là bình đẳng hình thức.

Xem thêm bài viết hay:  Giảm phân là gì? Kết quả và ý nghĩa của quá trình giảm phân?

Việc thành lập một xã hội theo con đường xã hội chủ nghĩa đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử loài người. Theo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác, xã hội xã hội chủ nghĩa là giai đoạn đầu tiên của một xã hội cộng sản chủ nghĩa. Ở giai đoạn này, nhà nước thực hiện chế độ phân phối theo công việc dựa trên sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất (vì nước ta đang ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội và sẽ còn ở giai đoạn đầu). của chủ nghĩa xã hội lâu dài, nhà nước thực hiện hệ thống kinh tế cơ bản và hệ thống phân phối trong đó phân phối theo lao động là chủ thể và nhiều phương thức phân phối cùng tồn tại) và chế độ chính trị Nhà nước do nhân dân làm chủ. Bản chất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng nhà sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất, xóa bỏ bóc lột, xóa bỏ phân cực, và cuối cùng là đạt được thịnh vượng chung, đạt được Chủ nghĩa cộng sản được tạo điều kiện. Điều này có nghĩa là trong một nước xã hội chủ nghĩa, với sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất và sự cải tiến không ngừng của các hệ thống khác nhau, thì cuối cùng, sự bóc lột về kinh tế phải bị xóa bỏ, và tất cả các chế độ và hệ thống bất bình đẳng và bất công phải bị xóa bỏ, và tất cả mọi người đều được hưởng các quyền và lợi ích xứng đáng. quyền con người toàn vẹn.

Xem thêm bài viết hay:  Gợi ý quà tặng sinh nhật cho nữ (mẹ, vợ, bạn gái, người yêu)

Vì vậy, chủ nghĩa xã hội thực chất là thể hiện yêu cầu công bằng và bình đẳng, bình đẳng là nội hàm đúng đắn của chủ nghĩa xã hội. Pháp luật xã hội chủ nghĩa là tập hợp các quy tắc xử sự do cơ quan lập pháp hoặc cơ quan nhà nước của một nước xã hội chủ nghĩa xây dựng và được bảo đảm bằng quyền lực nhà nước, phản ánh lợi ích cơ bản và ý chí chung của nhân dân, mục đích cơ bản của nó là tạo ra một môi trường xã hội công bằng. Bảo đảm mọi người dân tham gia bình đẳng vào sự nghiệp hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa, bình đẳng về mọi quyền và lợi ích. Vì vậy, bình đẳng là thuộc tính cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

3. Quy tắc Công dân Bình đẳng về trách nhiệm pháp lý được phản ánh trong:

Tôn trọng quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi người là quan điểm nhất quán của Đảng ta. Là một chính đảng mácxít, lấy mục tiêu cơ bản hết lòng phục vụ nhân dân, Đảng ta luôn kiên định nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật là đường lối chính trị của mình trong các thời kỳ lịch sử. mạng, xây dựng và đổi mới, phấn đấu hết mình. để hiện thực hóa đề xuất này.

Có thể thấy, từ các quy định có liên quan trong Hiến pháp và pháp luật nước ta, ý nghĩa bình đẳng trước pháp luật bao gồm ba mặt: thứ nhất là bất kỳ công dân nào, không phân biệt dân tộc, nòi giống, dân tộc. chủng tộc, giới tính, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, trình độ học vấn hoặc tình trạng tài sản. Họ đều bình đẳng hưởng các quyền quy định trong Hiến pháp và luật, phải thực hiện bình đẳng các nghĩa vụ quy định trong Hiến pháp và luật. Thứ hai, trong khi mọi quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều được bảo vệ như nhau, thì dù ở địa vị, chức vụ, quyền hạn cao đến đâu, người nào vi phạm pháp luật hoặc phạm tội đều phải bị pháp luật trừng trị, không có ngoại lệ. Thứ ba, không công dân nào được hưởng đặc quyền ngoài pháp luật, không ai có thể buộc công dân thực hiện nghĩa vụ ngoài pháp luật, không công dân nào phải chịu hình phạt ngoài pháp luật.

4. Ý nghĩa của quy tắc trách nhiệm công dân bình đẳng:

Tôn trọng quyền bình đẳng của mọi người trước pháp luật có ý nghĩa to lớn đối với việc củng cố quy định của pháp luật xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.

Trước hết, thể hiện đầy đủ tính ưu việt của hệ thống xã hội chủ nghĩa đặc sắc Việt Nam, để vai trò chủ đạo của nhân dân trong Nhà nước pháp quyền được tôn trọng và bảo đảm, từ đó góp phần nâng cao ý thức làm ăn. quyền làm chủ và trách nhiệm của nhân dân.

Xem thêm bài viết hay:  Dẫn độ tội phạm là gì? Đặc điểm, nguyên tắc và đối tượng?

Thứ hai, Nó dứt khoát phản đối đặc quyền, ưu đãi ngoài luật pháp, đồng thời tạo ra những ràng buộc đối với cán bộ lãnh đạo có quyền hạn nhất định, từ đó góp phần ngăn chặn sự xói mòn đội ngũ cán bộ bởi những tư tưởng đặc quyền, quy định ngầm.

Thứ ba, rõ ràng phản đối sự phân biệt đối xử ngoài vòng pháp luật, ủng hộ việc thực hiện nguyên tắc pháp quyền.

Cuối cùng, nó đòi hỏi mọi người phải hành động theo pháp luật, hưởng đầy đủ các quyền do pháp luật quy định và thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ do pháp luật quy định, có lợi cho việc duy trì thẩm quyền của pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, bảo đảm việc thực hiện pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặc sắc Việt Nam và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là mục tiêu tổng quát của việc đẩy mạnh toàn diện nhà nước pháp quyền.

5. Các biện pháp hữu hiệu thúc đẩy bình đẳng trước pháp luật:

Bảo đảm mọi tổ chức, cá nhân phải tôn trọng thẩm quyền của Hiến pháp và pháp luật, hành động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, thực hiện quyền hoặc quyền hạn của mình và thực hiện nhiệm vụ hoặc nghĩa vụ theo quy định. của Hiến pháp và pháp luật, không được có những đặc quyền vượt quá Hiến pháp và pháp luật. Nâng cao hơn nữa nhận thức, quan niệm về Hiến pháp và pháp luật của mọi người dân, nhất là đội ngũ lãnh đạo các cấp và cán bộ, công chức các cơ quan nhà nước.

Chúng ta phải ra sức giải quyết những vấn đề vi phạm các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xâm phạm lợi ích của nhân dân. Trước hết, người lãnh đạo phải đi đầu trong việc tuân thủ pháp luật. Việc gì nhân dân phải làm thì bản thân cán bộ lãnh đạo phải làm trước. Thứ hai, phải tăng hình phạt. Cán bộ thi hành pháp luật không nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, cán bộ lãnh đạo dùng quyền lực chèn ép, lách luật để trục lợi, đã bị kiểm điểm, giáo dục mà không sửa chữa thì phải kiên quyết cách chức, cách chức. chức năng theo quy định của pháp luật.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lý là gì? Cho ví dụ? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận