Chủ thể pháp luật là gì? Chủ thể của quan hệ pháp luật là gì?

chủ thể pháp lý. Chủ thể của quan hệ pháp luật.

Pháp luật là một phạm trù lý luận và thực tiễn điều chỉnh mọi hoạt động của các chủ thể trong đời sống xã hội. Chủ thể của pháp luật và chủ thể của quan hệ pháp luật là gì? Bài viết dưới đây sẽ phân tích và làm rõ.

Luật sư Tư vấn pháp lý Online miễn phí qua tổng đài:

1. Chủ thể pháp luật:

1.1. Khái niệm chủ thể pháp luật:

Chủ thể pháp luật là cá nhân, tổ chức có đủ năng lực, quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật. Về nguyên tắc, để trở thành chủ thể pháp luật chỉ cần có năng lực pháp luật. Nói cách khác, năng lực pháp luật là điều kiện quan trọng của chủ thể pháp luật.

1.2. Quy định về chủ thể pháp luật:

– Theo quy định tại điều 16 BLDS 2015 năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được quy định như sau:

+ Thứ nhất, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là năng lực của cá nhân có các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.

+ Thứ hai, mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.

+ Thứ ba, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân bắt đầu từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.

Như vậy, có thể khẳng định chủ thể pháp luật là mọi cá nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của điều luật trên.

Tổ chức cũng được coi là chủ thể pháp luật dân sự. Cũng như cá nhân phải có năng lực pháp luật dân sự thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân cũng được pháp luật quy định rõ ràng. Theo đó, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

+ Được thành lập theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;

+ Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;

+ Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;

+ Độc lập tham gia các quan hệ pháp luật với danh nghĩa của mình

Về nguyên tắc, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ dân sự. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh kể từ thời điểm ghi vào sổ.

Xem thêm bài viết hay:  Thành phần phụ chú là gì? Thành phần, cách nhận biết và ví dụ?

2. Chủ thể của quan hệ pháp luật:

2.1. Khái niệm chủ thể của quan hệ pháp luật:

Chủ thể của quan hệ pháp luật là cá nhân, tổ chức có năng lực chủ thể, theo các điều kiện do pháp luật quy định, tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định.

2.2. Quy định của pháp luật về chủ thể của quan hệ pháp luật:

– Chủ thể của quan hệ pháp luật cũng giống như chủ thể pháp luật bao gồm cá nhân và tổ chức. Cá nhân trong quan hệ pháp luật dân sự bao gồm công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch, trong đó công dân là chủ thể chung của hầu hết các quan hệ pháp luật. Về cơ bản, một cá nhân muốn trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật thì phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi.

Để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật, cá nhân, tổ chức phải đảm bảo những điều kiện nhất định. Theo đó, năng lực chủ thể bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Năng lực pháp luật là khả năng của chủ thể có các quyền và nghĩa vụ pháp lý do pháp luật quy định. Năng lực hoạt động là khả năng của chủ thể tự xác định và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý bằng hành vi của mình phù hợp với quy định của pháp luật, thông qua các trường hợp pháp lý do pháp luật quy định.

Điều kiện có năng lực pháp luật của chủ thể quan hệ pháp luật:

+ Năng lực pháp luật của cá nhân gắn liền với mỗi cá nhân, từ khi cá nhân đó sinh ra và chỉ chấm dứt khi cá nhân đó chết hoặc bị coi là đã chết. Năng lực pháp luật là khả năng của một chủ thể được nhà nước thừa nhận có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong một quan hệ pháp luật. Pháp luật không phải là thuộc tính tự nhiên của cá nhân mà là một phạm trù xã hội, phụ thuộc vào ý chí của nhà nước. Năng lực pháp luật của cá nhân có thể bị hạn chế trong một số trường hợp do pháp luật quy định như hình phạt bổ sung cấm cư trú trong luật hình sự.

Xem thêm bài viết hay:  Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội

+ Thông thường, thời điểm phát sinh và chấm dứt năng lực pháp luật của chủ thể theo quy định của pháp luật là khác nhau giữa các cá nhân, tổ chức cũng như giữa các quan hệ pháp luật khác nhau. Còn chủ thể là cá nhân thì trong nhiều quan hệ pháp luật, năng lực pháp luật của họ phát sinh từ khi họ sinh ra và chấm dứt khi họ chết. Đối với chủ thể là tổ chức thì năng lực pháp luật của tổ chức đó sẽ phát sinh khi được thành lập hoặc công nhận và chấm dứt khi bị giải thể hoặc sáp nhập.

+ Một tổ chức, cá nhân cụ thể chỉ cần có năng lực pháp luật trong một quan hệ pháp luật nhất định là có thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật đó. Ví dụ: Anh Nguyễn Văn K và chị Nguyễn Thị B yêu nhau từ năm 2018. Đầu năm 2022 hai người quyết định kết hôn. Anh K và chị B đăng ký kết hôn. Tại thời điểm hai người đăng ký kết hôn, anh K và chị B đã trở thành chủ thể trong quan hệ hôn nhân với nhau. Nói cách khác, Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của tổ chức xuất hiện đồng thời khi tổ chức đó được thành lập hợp pháp và mất đi khi tổ chức đó bị giải thể hoặc phá sản. Do đó, tổ chức, cá nhân muốn trở thành chủ thể độc lập, chủ động trong một quan hệ pháp luật cụ thể, tức là tự mình xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ này. Ngoài năng lực pháp luật, các chủ thể này còn phải có năng lực hành vi

Điều kiện về năng lực hành vi của chủ thể quan hệ pháp luật:

+ năng lực pháp luật là khả năng của một chủ thể được nhà nước thừa nhận có thể xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình bằng chính hành vi của mình. Thời điểm phát sinh và chấm dứt năng lực hành vi pháp luật của chủ thể do pháp luật quy định giữa các cá nhân, tổ chức cũng như giữa các quan hệ pháp luật khác nhau.

+ Đối với chủ thể là cá nhân thì năng lực hành vi pháp luật không phát sinh từ khi sinh ra mà sẽ hình thành dần theo độ tuổi và cá nhân đó sẽ được coi là có năng lực hành vi pháp luật. đầy đủ khi đến một độ tuổi nhất định và phát triển bình thường về trí tuệ. Là độ tuổi mà sự phát triển về trí tuệ và thể chất cho phép chủ thể tự mình xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình. Độ tuổi đó khác nhau trong các quan hệ pháp luật khác nhau theo quy định cụ thể của pháp luật. Năng lực hành động hợp pháp của một cá nhân chấm dứt khi họ chết. Thời điểm có năng lực hành vi pháp luật và có đầy đủ năng lực hành vi pháp luật của chủ thể là cá nhân có thể giống nhau hoặc khác nhau tùy theo từng quan hệ pháp luật.

Xem thêm bài viết hay:  Trưng cầu ý kiến là gì? Trưng cầu dân ý là hình thức dân chủ nào?

+ Đối với chủ thể là tổ chức thì có năng lực pháp luật đầy đủ khi được thành lập hoặc được công nhận, còn năng lực pháp luật của tổ chức sẽ chấm dứt khi bị giải thể hoặc sáp nhập. Năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật của chủ thể có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó năng lực pháp luật giữ vai trò quyết định, nó là tiền đề, cơ sở tạo nên năng lực hành vi pháp luật. luật. Chủ thể không có năng lực pháp luật trong quan hệ pháp luật nào thì đương nhiên không có năng lực pháp luật trong quan hệ pháp luật đó.

Như vậy, pháp luật đã quy định rõ ràng, cụ thể về chủ thể của pháp luật và chủ thể của quan hệ pháp luật. Các quy định này giúp cá nhân, tổ chức xác định rõ ràng với ai sẽ trở thành chủ thể của quan hệ phạm trù trên. Từ đó điều chỉnh các hoạt động, hành vi cho phù hợp với các quy định, khuôn mẫu chung của pháp luật. Suy cho cùng, các quy định về chủ thể pháp luật (hay quan hệ pháp luật) mà Nhà nước đưa ra đều nhằm định hướng trách nhiệm, nhiệm vụ của cá nhân, tổ chức, hướng họ hoạt động đúng hướng. đường lối pháp luật của Nhà nước.

Chuyên mục: Bạn cần biết

Nhớ để nguồn bài viết: Chủ thể pháp luật là gì? Chủ thể của quan hệ pháp luật là gì? của website thcstienhoa.edu.vn

Viết một bình luận